Truy cập nội dung luôn

Thông tin chung về huyện Phú Bình

CÁC NGUỒN LỰC VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH

I.  CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN

1.1. Vị trí địa lý

Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên. Huyện Phú Bình nằm ở phía nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26 km, cách thị xã Bắc Ninh 50km. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 249,36 km2. Dân số năm 2008 là 146.086 người, mật độ dân số 586 người/km2.[1]

Huyện Phú Bình giáp huyện Đồng Hỷ về phía bắc; giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên về phía tây. Phía đông và nam giáp tỉnh Bắc Giang (các huyện Hiệp HòaTân Yên và Yên Thế). Tọa độ địa lý của huyện: 21o23 33’ – 21o35 22’ vĩ Bắc; 105o51 – 106o02 kinh độ Đông.

Địa hình của Phú Bình thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi. Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với độ cao địa hình 10-15m. Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân bố dọc sông Cầu. Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi của Phú Bình thuộc loại kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình, dạng bát úp, với độ cao tuyệt đối 50-70m. Trước đây, phần lớn diện tích nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp có lớp phủ rừng nhưng hiện nay lớp phủ rừng đang bị suy giảm, diện tích rừng tự nhiên hầu như không còn. Địa hình của huyện có chiều hướng dốc xuống dần từ Đông Bắc xuống Đông Nam, với độ dốc 0,04% và độ chênh lệch cao trung bình là 1,1 m/km dài. Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 14m, thấp nhất là 10m thuộc xã Dương Thành, đỉnh cao nhất là Đèo Bóp, thuộc xã Tân Thành, có chiều cao 250 m. Diện tích đất có độ dốc nhỏ hơn 8% chiếm đa số, nên địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Địa hình có nhiều đồi núi thấp cũng là một lợi thế của Phú Bình, đặc biệt trong việc tạo khả năng, tiềm năng cung cấp đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, công trình thủy lợi, khu công nghiệp.

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính gồm thị trấn Hương Sơn và 20 xã, trong đó có 7 xã miền núi, với 31xóm (số liệu năm 2007). Các xã của huyện gồm Bàn ĐạtBảo LýDương Thành,Đào XáĐiềm ThụyĐồng LiênHà ChâuKha SơnLương PhúNga MyNhã LộngTân ĐứcTân HòaTân KhánhTân KimTân ThànhThanh Ninh,Thượng ĐìnhÚc Kỳ vàXuân Phương.

Các xã của huyện được chia làm ba vùng. Vùng 1 thuộc tả ngạn sông Máng gồm 8 xã: Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Bảo Lý và Tân Hòa. Vùng 2 gồm thị trấn Hương Sơn và 6 xã vùng nước máng sông Cầu: Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, Lương Phú, và Tân Đức. Vùng 3 là vùng nước máng núi Cốc gồm 6 xã: Hà Châu, Nga My, Điềm Thụy, Thượng Đình, Nhã lộng và Úc Kỳ.  

Trên địa bàn Huyện Phú Bình có Quốc lộ  37 chạy qua với khoảng 17,3km, nối liền huyện với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang (khu công nghiệp Đình Trám,  tỉnh Bắc Giang). Ngoài ra còn có khoảng 35,1 km tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện (5 km ĐT261; 9,9 km ĐT266; 5,5 km ĐT261C; 14,7 km ĐT269B). Hệ thống Quốc lộ và Tỉnh lộ nêu trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông của huyện với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Hiện nay dự án đường giao thông nối từ Quốc lộ 3 đi Điềm Thuỵ đã được UBND tỉnh cho điều chỉnh, bổ sung vòa quy hoạch mạng lưới giao thông của tỉnh. Sở Giao thông vận tải đang tiến hành lập dự án đầu tư với qui mô đường cấp cao đô thị lộ giới 42m. Đây là tuyến đường nối liền KCN Sông Công, KCN phía Bắc huyện Phổ Yên với các KCN của huyện Phú Bình. Do vậy, khi hoàn thành nó sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho vận tải, lưu thông hàng hoá, phát triển kinh tế xã hội của huyện cũng như liên kết kinh tế với địa phương bạn và các tỉnh khác. Ngoài ra, một dự án xây dựng đường dài 10,3 km, rộng 120 m, nối đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên với Phú Bình, đi qua Tổ hợp dự án khu công nghiệp, nông nghiệp, đô thị và dịch vụ Yên Bình đang được phê duyệt và xúc tiến đầu tư. Khi tuyến đường này hoàn thành hứa hẹn sẽ tạo ra sự đột phá cho sự phát triển kinh tế của huyện. Với vị trí địa lý của mình nằm cách không xa thủ đô Hà Nội và sân bay Nội Bài, sự phát triển những tuyến giao thông huyết mạch như trên còn giúp Phú Bình đón đầu xu hướng dãn và di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp ra khỏi Hà Nội, tạo điều kiện cho Phú Bình đón nhận đầu tư trong nước và nước ngoài để trở thành một trung tâm công nghiệp dịch vụ của tỉnh cũng như của vùng.

1.2. Khí hậu và thuỷ văn

Khí hậu của Phú Bình mang đặc tính của khí hậu của miền núi trung du Bắc Bộ. Khí hậu của huyện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư năm sau. Mùa hè có gió Đông Nam mang về khí hậu ẩm ướt. Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh và khô.

Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện giao động khoảng 23,1o – 24,4oC. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 – 28,9oC) và tháng lạnh nhất (tháng 1 – 15,2oC) là 13,7oC. Tổng tích ôn hơn 8.000oC. Tổng giờ nắng trong năm giao động từ 1.206 – 1.570 giờ. Lượng bức xạ 155Kcal/cm2.

Lượng mưa trung bình năm khoảng từ 2.000 đến 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 81-82%. Độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào tháng 11, 12.

Có thể nói điều kiện khí hậu – thủy văn của Phú Bình khá thuận lợi cho việc phát triển các ngành nông, lâm nghiệp với các cây trồng vật nuôi thích hợp với địa bàn trung du.

1.3. Tài nguyên đất đai

Theo số liệu thống kê do Phòng Thống kê huyện Phú Bình cung cấp, năm 2007 Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 24.936 ha, trong đó đất nông nghiệp có 20.219 ha, (chiếm 81%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 13.570 ha (chiếm 54,3%), đất lâm nghiệp 6.218 ha (chiếm 25%), đất nuôi trồng thủy sản 431 ha (chiếm 1,7%); đất phi nông nghiệp 4.606 ha (chiếm 18,5 %) và đất chưa sử dụng 111 ha (chiếm 0,5%). Như vậy trong cơ cấu đất đai của huyện, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 54,3% trong khi đất lâm nghiệp chỉ chiếm 25%. Điều đó chứng tỏ nông nghiệp vẫn giữ vị trí hàng đầu trong kinh tế của huyện. Về cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, năm 2007, trong tổng số 13.570 ha, có 7.450 ha trồng lúa (chiếm 55%), 2.690 ha trồng cây hàng năm khác (chiếm 20%) và 3.430 ha trồng cây lâu năm (chiếm 25%). Như vậy mặc dù là một huyện trung du nhưng cây trồng chủ đạo vẫn là lúa, và cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả không phải là thế mạnh của sản xuất nông nghiệp của huyện.

Tài nguyên đất đai của Phú Bình có nhiều chủng loại nhưng phân bố không tập trung. Nhìn chung đất đai Phú Bình được đánh giá là có chất lượng xấu, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước và giữ ẩm kém, độ mùn tổng số thấp từ 0,5% đên 0,7%, độ PH cao từ 4 đến 5. Với tài nguyên đất đai như vậy, hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao. Tuy nhiên, đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi cần lấy đất ở một số vùng để xây dựng các khu công nghiệp, chi phí đền bù đất sẽ thấp hơn nhiều so với các vùng đồng bằng trù phú và ít ảnh hưởng tới an ninh lương thực của quốc gia hơn.

Trong diện tích đất lâm nghiệp của huyện hiện không còn rừng tự nhiên. Toàn bộ diện tích 6.218 ha rừng của huyện là rừng trồng, chủ yếu là cây keo.

Nhìn chung, diện tích đất đai nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện trong thời gian qua tuy có giảm nhưng không biến động lớn. Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp cũng không thay đổi nhiều.

Diện tích đất phi nông nghiệp tuy có tăng nhưng không nhiều. Trong đó đất ở ít  thay đổi. Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên chủ yếu do xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển một số khu công nghiệp và công trình công cộng. Diện tích đất chưa sử dụng của huyện không đáng kể, chỉ chiếm 0,5% diện tích đất tự nhiên. Điều đó chứng tỏ quĩ đất của huyện về cơ bản đã được khai thác hết.

1.4. Tài nguyên khoáng sản

Về tài nguyên khoáng sản tự nhiên, Phú Bình không có các mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn như ở các huyện khác của tỉnh. Phú Bình có nguồn cát, đá sỏi ở sông Cầu. Đây là là nguồn vật liệu xây dựng khá dồi dào, phục vụ cho các hoạt động khai thác đáp ứng cho nhu cầu trong huyện.

1.5. Tài nguyên nước

Nguồn nước cung cấp cho Phú Bình khá phong phú, chủ yếu của sông Cầu và các suối, hồ đập. Sông Cầu là một sông lớn thuộc hệ thống sông Thái Bình. Lưu lượng nước mùa mưa là 3.500m3/s, mùa khô là 7,5m3/s. Địa phận Phú Bình có 29 km sông Cầu chảy qua, chênh cao 0,4 m/km, lưu lượng trung bình về mùa mưa 580-610 m3/s, về mùa khô 6,3-6,5 m3/s. Sông cầu là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho Phú Bình phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sông Cầu còn là đường giao thông thủy quan trọng. Nhưng những năm gần đây do tình trạng khai thác cát sỏi không được qui hoạch và quản lý tốt nên nhiều đoạn bị đào bới nham nhở, gây cản trở cho giao thông đường thủy.

Phú Bình còn có một hệ thống kênh đào có chiều dài 33 km được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Kênh đào chảy quan địa phận huyện từ xã Đồng Liên, qua xã Bảo Lý, Hương Sơn, Tân Đức rồi chảy về địa phận tỉnh Bắc Giang. Hệ thống kênh đào cung cấp nước tưới cho các xã nó đi qua. Ngoài ra Phú Bình còn có hệ thống suối và hồ đập tự nhiên cũng như nhân tạo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.

1.6. Về cảnh quan thiên nhiên và hệ động, thực vật

Phú Bình là huyện không có cảnh quan thiên nhiện đẹp và nổi tiếng như một số địa phương khác. Tuy nhiên, Phú Bình cũng có những địa danh và cảnh quan đẹp có thể phát triển du lịch sinh thái và các khu nghỉ dưỡng. Do rừng tự nhiên không còn nên Phú Bình không còn hệ động thực vật nguyên sinh hay tự nhiên. Phú Bình không gặp phải tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng như ở một số huyện có công nghiệp khai khoáng và luyện kim. Tuy nhiên do sông Cầu bị ô nhiễm nặng nên nguồn nước tưới lấy từ sông Cầu ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường nước của các xã có liên quan. 

II. CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KHÁC

2.1. Dân số và nguồn lao động

Theo số liệu do Phòng Thống kê và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Phú Bình cung cấp, tính đến cuối năm 2008, dân số của toàn huyện Phú Bình là 146.086 người, với mật độ dân số trung bình là 586 người/km2. Mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, các xã có mật độ dân số cao trên 1000 người/km2 là Nhã Lộng, Thanh Ninh và Hà Châu. Các xã có mật độ dân số thấp dưới 400 người/km2 gồm Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim và Tân Thành. 

Trong số 146.086 nhân khẩu có 83.269 người trong độ tuổi lao động, trong đó có 78.886 lao động đang làm việc trong nền kinh tế. Đây vừa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, vừa là sức ép đối với vấn đề lao động và việc làm của huyện trong những năm triển khai quy hoạch. Năm 2008 có 2.266 lao động được giải quyết việc làm, 2.765 lao động được đào tạo nghề. Phân theo ngành, năm 2008 lao động nông nghiệp có tỷ trọng lớn nhất với 67.500 người, chiếm 78% tổng số lao động của toàn huyện.

Đánh giá một cách tổng quan, nguồn lao động của Phú Bình tuy khá dồi dào nhưng chủ yếu là lao động giản đơn, sinh sống bằng nghề nông. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp. Vấn đề tạo việc làm trên địa bàn bàn huyện còn nhiều hạn chế. Lực lượng lao động trẻ, được đào tạo nghề thường thoát ly khỏi địa bàn, đi tìm việc làm tại các huyện hoặc tỉnh khác. Những đặc điểm về dân số và nguồn lao động như vậy sẽ tạo ra cho Phú Bình cả những thuận lợi và những khó khăn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

2.2. Các di tích lịch sử văn hoá

Phú Bình là huyện có truyền thống lịch sử lâu đời. Trong kháng chiến chống Pháp, đây còn là địa bàn An toàn khu (ATK). Bởi vậy Phú Bình có nhiều di tích lịch sử. Trên địa bàn huyện Phú Bình tổng cộng có 70 di tích văn hóa lịch sử, trong đó có 7 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, 10 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Trong số những di tích đó có nhiều đình, chùa nổi tiếng, có giá trị cao về lịch sử và văn hóa. Ngoài ra, Phú Bình còn có một số địa danh khá nổi tiếng như Cầu Muối xã Tân Thành, Đình Phương Độ xã Xuân Phương, Khu di tích Mai Sơn xã Kha Sơn v.v. có thể phát  triển tuyến du lịch.                                                                                        

Tóm lại, tuy có tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch nhưng đây không phải là thế mạnh nổi bật của Phú Bình. Hơn nữa việc đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất để khai thác những tiềm năng này còn hạn chế. Do vậy, để biến tiềm năng này thành hiện thực, Phú Bình cần có một qui hoạch tổng thể hợp lý, cần có sự đầu tư lớn và liên kết với các địa phương khác.

2.3. Điều kiện về thị trường

Về hiện trạng thị trường, nông sản của huyện hiện nay chủ yếu vẫn là cung cấp cho thị trường tại chỗ của huyện và một số huyện lân cận, đặc biệt cho thành phố Thái Nguyên. Đây là thị trường ổn định và lâu dài cho việc sản xuất hàng hóa nông sản của huyện.

Với vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông của mình, Phú Bình có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận các thị trường trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh. Nằm kề với các huyện Hiệp HòaTân Yên vàYên Thế của tỉnh Bắc Giang, kết hợp với mạng lưới đường giao thông kết nối các huyện này đang được nâng cấp, Phú Bình có điều kiện tiếp xúc với các thị trường tỉnh bạn, nhất là với các khu công nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay lợi thế này chưa được phát huy. Đặc biệt, với vị trí có quốc lộ 3 (QL3) chạy qua và cách không xa thủ đô Hà Nội, Phú Bình sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường rộng lớn của thủ đô và các tỉnh lân cận. Ngoài ra, với xu hướng tăng thu nhập của dân cư, sự hình thành các khu công nghiệp trên địa bàn và  số dân dự kiến sẽ khoảng 147.000 người vào năm 2015 và 150.000 người vào năm 2020, Phú Bình sẽ có một thị trường nội huyện tiềm năng lớn.

Tuy lâm nghiệp không phải là thế mạnh nổi bật so với một số huyện miền núi khác trong tỉnh, nhưng với diện tích rừng trồng của mình, Phú Bình vẫn là một địa chỉ quan trọng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ cho các nhà máy ở địa phương khác cũng như trong huyện. Sự phát triển vùng nguyên liệu lâm nghiệp còn có thể kích thích đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản tại chỗ. Nhờ đó sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân lao động ở địa phương cũng như góp phần phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

3.1. Những nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội

- Với vị trí địa lý của mình, Phú Bình có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế và thị trường với các địa phương khác trong cũng như ngoài tỉnh. Với sự phát triển của mạng lưới đường giao thông quốc gia và nội tỉnh, nhất là QL3 và những trục đường được xây dựng và nâng cấp nối liến huyện với các địa phương giáp ranh và thủ đô, Phú Bình sẽ có những vận hội mới phát triển kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

- Về tài nguyên đất đai của huyện, về cơ bản hiện nay quĩ đất đã được khai thác hết. Quĩ đất cho các công trình phúc lợi của địa phương từ xã đến huyện rất eo hẹp. Đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Chất lượng đất nhìn chung xấu, nên năng suất thực tế không cao và tiềm năng tăng năng suất cây trồng hạn chế. Giá trị sản phẩm trồng trọt/1 ha đất nông nghiệp thấp, chỉ khoảng 25 triệu đồng.

- Nguồn nhân lực của huyện khá dồi dào, chất lượng nguồn nhân lực vào loại khá. Đây là thế mạnh đối với việc phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên, huyện cần chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề phù hợp để có thể cung cấp lao động có chất lượng cho huyện, tỉnh cũng như cho cả nước.  

- Thế mạnh của Phú Bình là sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Tuy là thế mạnh nhưng khả năng tăng diện tích cho sản xuất nông nghiệp không còn. Với xu hướng công nghiệp hóa, đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp trong những năm tới chắc chắn sẽ giảm. Ngoài ra tiềm năng tăng năng suất cây trồng vật nuôi cũng hạn chế. Những năm gần đây năng suất lúa tuy có tăng nhưng không nhiều. Phú Bình không có tiềm năng về phát triển các loại cây con đặc sản và cây công nghiệp như chè, như ở một số huyện khác của tỉnh. Là huyện trung du nhưng do quĩ đất hạn hẹp, Phú Bình không có điều kiện để phát triển chăn nuôi đại gia súc với qui mô lớn.

- Phú Bình có diện tích đất lâm nghiệp và rừng khá lớn. Tuy nhiên có thể nói rừng và lâm nghiệp không phải là thế mạnh kinh tế của huyện.             

- Về khoáng sản, Phú Bình có nguồn đá, cát sỏi sông Cầu đáp ứng cho nhu cầu xây dựng. Tuy nhiên, Phú Bình không có các mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn như một số huyện khác của tỉnh. Do vậy, huyện không có tiềm năng phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim.

- Phú Bình là một huyện Anh hùng có bề dày về lịch sử và văn hoá với một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, là căn cứ ATK2 tiền khởi nghĩa và có nhiều cảnh quan đẹp. Nguồn tài nguyên này sẽ giúp Phú Bình có điều kiện phát triển du lịch và qui hoạch các khu nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu cầu của nhân dân trong huyện, tỉnh cũng như các tỉnh lân cận, đặc biệt là thủ đô Hà Nội.

- Một thế mạnh nữa của Phú Bình là người dân địa phương có truyền thống cách mạng, yêu nước, cần cù lao động và ham học hỏi. Nhân dân Phú Bình luôn một lòng theo Đảng, nhờ vậy đây là địa phương luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

3.2. Những khó khăn thách thức

- Xuất phát điểm để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất thấp so với mặt bằng chung toàn quốc.

- Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên xã là một trở ngại và thách thức chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế của huyện. Mấy năm gần đây tuy có được Nhà nước quan tâm đầu tư nhưng hệ thống đường giao thông chưa được cải thiện nhiều, còn cần phải có đầu tư lớn mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của huyện. Có thể nói phát triển, nâng cấp đường giao thông là khâu mấu chốt để tạo ra sự bứt phá kinh tế của huyện trong những năm tới.

- Phát triển nông nghiệp của huyện vẫn luôn là thách thức đối với Phú Bình. Những năm tới, nông nghiệp của huyện vẫn giữ vai trò quan trọng, đáp ứng nhu cầu và ổn định cuộc sống của nhân dân, nhất là nông dân của huyện. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa chủ yếu vào nông nghiệp, kinh tế của huyện không thể có bước phát triển bứt phá để cất cánh.

- Phú Bình có nguồn lao động dồi dào nhưng hầu hết là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo nghề. Trong cơ cấu lao động của huyện, lao động nông nghiệp chiếm đến 78%. Điều đó đang đặt ra thách thức đối với huyện trong việc đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm tại địa phương cho người lao động.

- Là môt huyện trung du, đất không rộng, mật độ dân số cao và biến động cơ học của dân số là âm, đến nay Phú Bình vẫn là huyện nghèo, kinh tế thuần nông, kém phát triển.

- Do là huyện nghèo nên thu nhập của nhân dân thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, sức mua và thị trường nội huyện còn eo hẹp. Bởi vậy thị trường nội huyện chưa tạo ra được hấp dẫn cho việc phát triển các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn huyện.

 

 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2010

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 9,8% (Kế hoạch trên 10,5%)

2. Giá trị công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (giá cố định 1994) đạt: 27,8 tỷ đồng, bằng  87,1 % kế hoạch năm 2010, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm 2009.

3. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt: 73.470 tấn, bằng 102,0% kế hoạch năm 2010, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2009

4.  Diện tích trồng rừng nguyên liệu đạt: 262 ha, bằng 131% so kế hoạch năm 2010.

5. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: 16.000 tấn, bằng 94,1% so với kế hoạch năm 2010;

6. Thu ngân sách trên địa bàn: 12.755,8 triệu đồng, bằng 105,2% kế hoạch tỉnh giao năm 2010, bằng 93,4%  NQ HĐND huyện năm 2010; 

Trong đó: Thu cân đối ngân sách: 7.264,7 triệu đồng, bằng 89,5% kế hoạch tỉnh giao, bằng 86,7%  NQ HĐND huyện năm 2010;

7. Giải quyết việc làm: 2.100 lao động, đạt 91,3% kế hoạch năm 2010;

Trong đó: Đưa người đi lao động ở nước ngoài 131 lao động, bằng 131% kế hoạch năm 2010.

8. Hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch tuyển quân năm 2010.

9. Mức giảm tỷ suất sinh thô được dự báo hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch (0,2‰).

10. Giảm tỷ lệ hộ nghèo dự báo hoàn thành kế hoạch (giảm 3%).

 

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế BQ giai đoạn (2006 -2009): 9,3 %.

 Trong đó:   + Nông lâm nghiệp:              5,8 %.

                   + Công nghiệp - TTCN:     10,5 %.

                   + Xây dựng:                        15,8 %.

                        + Dịch vu:                        11,36 %.

   2. Tổng giá trị sản xuất năm 2009 (giá cố định):    833.280 triệu đồng. 

            Trong đó:     + Nông lâm nghiệp:            374.470 triệu đồng.

+ Công nghiệp - TTCN:       23.000 triệu đồng.

                                 + Xây dựng:                        253.340 triệu đồng.

                                 + Dịch vụ                           182.470 triệu đồng.

3. Cơ cấu kinh tế của huyện đến năm 2009:

- Công nghiệp - xây dựng:               20,40 %.

- Nông, lâm, ngư nghiêp :               51,95 %.           

- Dịch vụ:                                       27,65 %.

4. Thu nhập bình quân đầu người năm 2009:  8,2 triệu đồng/người/năm. 

5. Thu ngân sách Nhà nước năm 2009 đạt: 17.185 triệu đồng.  

6, Chi ngân sách Nhà nước: 169.525 triệu đồng.

7. Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt: 71.619 tấn.

8. Diện tích trồng rừng mới bình quân  hàng năm: Trên 200 ha/năm.

9. Giá trị SX/1ha đất trồng trọt năm 2009 (theo giá thực tế):  Trên 47,5 tr.đồng. 

10. Chăn nuôi (tại  thời điểm 01/10/2009):

                   + Đàn trâu:             11.716 con.

                   + Đàn bò:                16.442 con.

                    + Đàn lợn:              127.408 con.

                    + Đàn gia cầm:      1,4 triệu con.

11. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2009: 15.700 tấn.

13. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 28,12%(năm 2006) xuống 18,74%(năm 2009).

14.Tạo việc làm mới cho lao động bình quân hàng năm:  2.880 người/năm.

15. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới: 23,1%.

16. Nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên: 24 %.

17. Tỷ lệ hộ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh năm

 

 Mục tiêu,  nhiệm vụ kế hoạch giai đoạn  2011 - 2015

1. Mục tiêu:

Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng tới tăng trưởng trong ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp đồng thời khai thác các nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, các công trình giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục đảm bảo an sinh xã hội.  Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp, các ngành, hiệu quả đầu tư xây dựng; chủ động phòng ngừa có hiệu quả các vấn đề về tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, dịch bệnh, môi trường.

2. Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của huyện đến năm 2015:

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015: 13% trở lên.

Trong đó:               - Nông, lâm, ngư nghiệp:                   4,26 %.

                      - Công nghiệp -TTCN:                       44,03%.

                      - Xây dựng:                                        16,5%.

                      - Dịch vụ:                                           16,4%.

2. Giá trị sản xuất đến năm 2015 (theo giá cố định) đạt: 1.777.481 triệu đồng.

Trong đó:               - Nông, lâm, ngư nghiệp:                   490.420 triệu đồng.

                      - Công nghiệp -TTCN:                       185.069 triệu đồng.

                      - Xây dựng:                                        638.521 triệu đồng.

                      - Dịch vụ:                                           463.471 triệu đồng.

3. Giá trị sản xuất đến năm 2015 (theo giá hiện hành) đạt: 4.633.820 triệu đồng.

Trong đó:               - Nông, lâm, ngư nghiệp:                   1.022.537 triệu đồng.

                      - Công nghiệp -TTCN:                          647.741 triệu đồng.

                      - Xây dựng:                                        1.596.303 triệu đồng.

                      - Dịch vụ:                                           1.367.240 triệu đồng.

4. Cơ cấu nền kinh tế của huyện đến năm 2015:

                       - Công nghiệp - TTCN, xây dựng:       33,7 %.         

                       - Nông, lâm, ngư nghiêp :                    33,3 %.         

                       - Dịch vụ:                                             33,0 %.

5. Giá trị gia tăng bình quân đầu người: Trên 16 triệu đồng/năm/người. 

6. Thu ngân sách Nhà nước: 31,5 tỷ đồng. 

7, Chi ngân sách Nhà nước: 182,0 tỷ đồng.

8. Sản lượng lương thực có hạt 72.000 tấn ( trong đó thóc là 59.160 tấn , ngô là 12.840 tấn).

9. Diện tích trồng rừng mới tập trung bình quân hàng năm: 200 ha.

10. Giá trị SX/1ha đất trồng trọt đến năm 2015 (theo giá thực tế) đạt: 63 triệu đồng. 

 

11. Chăn nuôi:    + Đàn trâu:        11.000 con.

                            + Đàn bò:          21.000 con.

                            + Đàn lợn:       145.000 con.

                           + Đàn gia cầm: 1,8 triệu con.

12. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: 23.000 tấn.

13. Giảm tỷ suất sinh thô bình quân hàng năm: 0,20 %o.

14. Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn: 8,14 %.

15.Tạo việc làm mới cho lao động (cả giai đoạn): 13.000 người.

16. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng suống dưới: 17%.

17. Tỷ lệ độ che phủ của rừng ổn định: 24,06 %.

18. Tỷ lệ hộ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh: Trên  80%.

 

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH ĐẾN NĂM 2020

3.1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng huyện Phú Bình thành một huyện phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội; Phát triển kinh tế mở, tạo đột phá về phát triển giao thông để thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; Phát triển kinh tế nhanh, vững chắc và sớm hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ –, nông nghiệp có cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển; Văn hóa, giáo dục đào tạo và y tế tiên tiến; Phát huy và duy trì những bản sắc văn hóa, tinh thần của địa phương và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh;  Chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; Đảm bảo quốc phòng và an ninh.

3.2. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020

Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, huyện cần tập trung phát triển công nghiệp. Củng cố các khu công nghiệp đã định hình. Đẩy nhanh tiến độ qui hoạch chi tiết và xây dựng các khu, cụm công nghiệp mới và Tổ hợp công nghiệp – dịch vụ Yên Bình, nhằm kêu gọi đầu tư. Đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp, củng cố kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất như hệ thống giao thông, công trình thuỷ lợi, hệ thống trạm, trại kỹ thuật nông, lâm nghiệp. Thâm canh tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Xây dựng một số vùng rau an toàn, chất lượng cao cung cấp cho các khu công nghiệp, đô thị và phục vụ du lịch. Phát triển chăn nuôi nhất là trâu, bò thịt, chăn nuôi lợn và gà cung cấp cho các điểm đô thị, khu công nghiệp. Bảo vệ và giữ gìn diện tích rừng hiện có kết hợp với trồng mới và khai thác hợp lý rừng trên các khu vực được qui hoạch. Phát triển ngành du lịch, và một số khu nghỉ dưỡng. Phát triển các ngành dịch vụ phù hợp. Phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo dạy nghề, các khu văn hoá, thể thao.

3.3. Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể dưới đây được xác định căn cứ vào Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và những đặc điểm đặc thù của huyện.

a) Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2010 - 2015 đạt 12,0 - 13%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 đạt 14 - 15%/năm; trong đó, tăng trưởng bình quân của các ngành trong cả thời kỳ 2010 - 2020: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 4 - 4,5%/năm, công nghiệp - xây dựng đạt 19 - 20%/năm, dịch vụ đạt 15 -  16%/năm.

b) Về chuyển dịch cơ cầu kinh tế, đến năm 2015 định hình cơ cấu kinh tế công –nông nghiệp – dịch vụ, với tỷ lệ lần lượt 40%, 35% và 25%; đến năm 2020 định hình cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng là 50%, 28% và 22%.

c) GDP bình quân đầu người đạt 1.300 - 1.400 USD vào năm 2015 và 2.200 - 2.300 USD vào năm 2020 (Bằng với mức bình quân của tỉnh được đề ra trong Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020).

đ) Về thu ngân sách trên địa bàn, trước năm 2020 huyện có thể tự cân đối ngân sách cho chi thường xuyên. Hiện nay, trong cơ cấu thu ngân sách của huyện Phú Bình, tỷ trọng thu từ công nghiệp và dịch vụ còn rất thấp. Do vậy mức thu ngân sách và tỷ lệ huy động ngân sách từ giá trị sản xuất của huyện còn rất thấp. Đến năm 2020,  cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển sang công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp, với giá trị GDP trên địa bàn ước đạt  3260 tỷ đồng. Hiện nay tỷ lệ thu ngân sách/ GDP của cả nước đạt khoảng 22%. Đến năm 2020, nếu tỷ lệ thu ngân sách/ GDP của Phú Bình đạt 10% thì thu ngân sách trên địa bàn cũng sẽ đạt 326 tỷ đồng (giá năm 2008). Như vậy mục tiêu nêu trên hoàn toàn có thể đạt được.

e) Tốc độ tăng dân số bình quân trong cả thời kỳ 2010 - 2015 là 0,11%/năm; trong đó tốc độ tăng dân số tự nhiên đạt 0,9 - 0,95%/năm; thời kỳ 2016-2020 là 0,5% với tốc độ tăng tự nhiên 7,5 – 8%.

f) Trước năm 2020, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông cho 90% dân số trong độ tuổi đi học, bao gồm cả trình độ trung học và tương đương: học nghề, giáo dục chuyên nghiệp, tốt nghiệp phổ thông và bổ túc; Kiên cố hóa toàn bộ trường, lớp học; Đến năm 2015 100% trường đạt chuẩn quốc gia.

g) Bảo đảm đủ cơ sở khám, chữa bệnh và nhân viên y tế đạt chuẩn, cơ sở y tế xã có thể đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng và khám chữa bệnh thông thường vào năm 2015; 100% người dân có bảo hiểm y tế và được chăm sóc y tế thường xuyên vào năm 2015.

h) Giải quyết việc làm bình quân hàng năm cho khoảng 2.200 lao động trong thời kỳ 2010 - 2015 và cho 2.500 - 3.000 lao động trong thời kỳ 2016 - 2020; Bảo đảm trên 90% lao động trong độ tuổi có việc làm vào năm 2015; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55 – 60% vào năm 2015 và đạt trên 65% vào năm 2020; Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ) giảm xuống còn dưới 10% vào năm 2015 và dưới 5% vào năm 2020; Chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản được thu hẹp.

i) Trước năm 2015 nâng cấp toàn bộ ĐT266 bao gồm: 5,2km mặt đường BTN lộ giới 42m và 8km mặt đường BTN đạt tiêu chuẩn đường cấp IV. Phối hợp với huyện Phổ Yên và nhà đầu tư xây dựng mới 10km đường cấp cao đô thị lộ giới 120m, nối từ đường cao tốc Hà Nôi ÷ Thái Nguyên qua Tổ hợp dự án khu công nghiệp, nông nghiệp, đô thị và dịch vụ Yên Bình, về khu vực trung tâm huyện Phú Bình (Trong đó, đoạn qua địa bàn huyện Phú Bình khoảng 5,8km); Phối hợp với Sở GTVT và các ngành của tỉnh hoàn thành xây dựng các đoạn tuyến đường Vành đai I qua địa bàn huyện; Nâng cấp hoàn chỉnh các tuyến đường huyện đạt cấp VI trở lên, đường xã từ GTNT loại A trở lên; Bê tông hóa 70% các tuyến đường liên thôn, xóm, bản.

j) Bảo đảm trên 70% số hộ gia đình được dùng nước hợp vệ sinh vào năm 2015 và nâng tỷ lệ này lên trên 90% vào trước năm 2020.

k) Bảo đảm môi trường sạch cho cả khu vực đô thị và nông thôn, nhất là đối với các khu công nghiệp mới được xây dựng.

l) Bảo đảm sự phát triển bền vững trên địa bàn. Gắn liền tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, giữ vững an ninh và quốc phòng, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.

 


Nguồn: Thainguyen.gov.vn
Tác giả: Phòng Biên tập Trị sự