Từ lợi thế về vùng chè đặc sản, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đến nền tảng công nghiệp điện tử và hệ sinh thái công nghệ đang hình thành, Thái Nguyên đang đứng trước cơ hội chuyển hóa những thế mạnh sẵn có thành các sản phẩm công nghệ chiến lược có giá trị gia tăng cao. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực để phát huy các ngành hàng lợi thế, hình thành những chuỗi giá trị mới, góp phần tạo động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Công ty TNHH Tân Cương Xanh thực hiện quy trình chế biến chè tự động hóa
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và phát triển kinh tế - xã hội. Với Thái Nguyên, tinh thần ấy đang được cụ thể hóa bằng việc đưa công nghệ đi sâu vào tất cả các ngành nghề, trong đó tập trung vào những lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế, thay đổi cách thức tạo ra giá trị thay vì chỉ mở rộng quy mô sản xuất.
Tại nhiều cuộc họp, cuộc làm việc, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Vương Quốc Tuấn nhấn mạnh, Thái Nguyên xác định 3 sản phẩm công nghệ chiến lược cần tập trung phát triển trong thời gian tới gồm quy trình trồng, sản xuất, chế biến chè; khai thác, chế biến sâu khoáng sản và công nghiệp bán dẫn. Đây không chỉ là sự lựa chọn dựa trên những lợi thế sẵn có, mà thể hiện tư duy phát triển mới của tỉnh: Lấy lợi thế làm nền tảng, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy giá trị gia tăng và sức cạnh tranh làm thước đo, từng bước chuyển hóa tài nguyên, sản phẩm truyền thống và nền tảng công nghiệp hiện có thành những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
Từ “Đệ nhất danh trà” đến sản phẩm công nghệ giá trị cao
Thái Nguyên từ lâu được biết đến là “thủ phủ chè” của cả nước, nơi cây chè không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn gắn với văn hóa, sinh kế và thương hiệu của địa phương. Sau nhiều năm phát triển, ngành chè đứng trước yêu cầu mới, không chỉ sản xuất nhiều hơn, mà phải tạo ra giá trị lớn hơn từ mỗi đơn vị sản phẩm dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ, đảm bảo mỗi quy trình từ sản xuất đến chế biến đều phải có thông số khoa học để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn.
Dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ từ sản xuất chè đến chế biến sẽ có thông số khoa học cụ thể để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn
Đến hết tháng 6/2026, Thái Nguyên có 22.200 ha chè. Đáng chú ý, gần 6.670 ha đã được chứng nhận VietGAP, hữu cơ; đặc biệt, toàn tỉnh đã có 204 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 6 sản phẩm đạt OCOP 5 sao Quốc gia. Từ quy mô vùng nguyên liệu lớn đến những sản phẩm ngày càng được chuẩn hóa, nâng cao chất lượng và giá trị, những con số này cho thấy chè Thái Nguyên không chỉ có lợi thế về sản lượng, mà đang từng bước hình thành một nền tảng đủ mạnh để phát triển thành chuỗi sản phẩm trà chất lượng cao.
Nhưng trong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc, lợi thế về diện tích hay sản lượng sẽ không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Giá trị của chè sẽ ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, công nghệ chế biến, tiêu chuẩn sản phẩm, thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường. Đó cũng là lý do Thái Nguyên đang đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào từng khâu của chuỗi giá trị ngành chè.
Theo Kế hoạch chuyển đổi số ngành chè giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh hướng tới hình thành hệ sinh thái số ngành chè đồng bộ, chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống, phân tán và quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu số và thị trường số. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu tối thiểu 70% diện tích chè có hồ sơ số và dữ liệu bản đồ GIS; 100% hồ sơ mã số vùng trồng được quản lý, cập nhật, giám sát trên môi trường số.
Như vậy, công nghệ đang được đưa vào ngành chè ngay từ vùng nguyên liệu. Dữ liệu về diện tích, vùng trồng, quy trình canh tác, sản lượng và chất lượng được chuẩn hóa sẽ tạo nền tảng để quản lý tốt hơn từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ. Nhật ký số, truy xuất nguồn gốc, nhận diện và “hộ chiếu số” sản phẩm, số hóa chế biến, quản trị sản xuất và kiểm soát chất lượng cũng được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Theo thống kê của Sở Khoa học và Công nghệ, đến nay, toàn tỉnh đã có 149 mã số vùng trồng chè được gắn định vị trên hệ thống toàn cầu GPS để theo dõi, quản lý và thực hiện truy xuất nguồn gốc theo quy định. Các vùng trồng được cấp mã số có tổng diện tích hơn 900 ha, sản lượng chè búp tươi ước đạt 11.300 tấn, trong đó có 84 mã vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa và 25 mã vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Việc xây dựng mã số vùng trồng không chỉ giúp xác định chính xác nguồn gốc nguyên liệu mà còn tạo điều kiện để quản lý quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu về minh bạch thông tin, an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để ngành chè Thái Nguyên từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản hiện đại, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.
HTX Chè La Bằng sử dụng máy móc công nghệ trong chế biến sản phẩm trà
Song song với đó, các HTX, doanh nghiệp và hộ sản xuất chè trên địa bàn tỉnh đang từng bước đưa công nghệ vào khâu chế biến, qua đó đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị của cây chè. Từ những dây chuyền sao, vò, sấy khép kín, sấy lạnh giúp kiểm soát nhiệt độ, giữ màu, hương và chất lượng búp chè, nhiều cơ sở đã phát triển các dòng sản phẩm như trà túi lọc, trà hòa tan, bột trà xanh, trà thảo mộc, đồ uống từ trà... Từ những búp chè tươi, bằng công nghệ và sự sáng tạo, ngày càng nhiều sản phẩm trà có giá trị gia tăng cao đang được tạo ra, mở rộng thị trường và đưa thương hiệu trà Thái Nguyên đến gần hơn với người tiêu dùng.
Từ tài nguyên khoáng sản đến vật liệu công nghệ cao
Nếu chè là lợi thế nông nghiệp đặc trưng thì khoáng sản là một trong những nền tảng hình thành nên diện mạo công nghiệp Thái Nguyên. Với nguồn tài nguyên quý, đa dạng gồm vonfram, titan, chì - kẽm, sắt, thiếc, vàng, than..., Thái Nguyên có lợi thế lớn về khoáng sản kim loại trong vùng trung du và miền núi phía Bắc. Theo định hướng của tỉnh, nguồn tài nguyên này trong giai đoạn mới sẽ hướng tới chế biến sâu, hàm lượng công nghệ cao và tạo ra giá trị gia tăng lớn từ mỗi đơn vị tài nguyên.
Theo quy hoạch, Thái Nguyên định hướng phát triển 27 nhà máy chế biến khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh hiện đã hình thành hệ thống các nhà máy, xưởng tuyển và cơ sở chế biến khoáng sản, tạo nền tảng để tiếp tục nâng cấp công nghệ và gia tăng giá trị.
Công ty cổ phần Masan High-Tech Materials sở hữu công nghệ nhập khẩu từ Đức để nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm công nghệ cao
Một trong những hướng đi tiêu biểu là chuỗi sản phẩm từ vonfram. Từ khai thác, tuyển quặng đến sản xuất các sản phẩm có giá trị cao hơn, chuỗi chế biến này đang mở ra khả năng đưa nguồn tài nguyên của Thái Nguyên tham gia sâu hơn vào các ngành công nghiệp hiện đại. Điểm quan trọng nhất không nằm ở việc tạo ra thêm một sản phẩm khoáng sản, mà là tạo ra vật liệu cho những ngành công nghệ khác.
Theo định hướng của tỉnh, từ bột vonfram siêu mịn có thể phát triển thành cacbua vonfram, vật liệu siêu cứng và các sản phẩm phục vụ cơ khí chính xác, điện tử, hàng không và bán dẫn. Với chì - kẽm, hướng phát triển không chỉ dừng ở kim loại mà còn mở rộng sang vật liệu phục vụ pin lưu trữ năng lượng, hợp kim, hóa chất chuyên dụng và các lĩnh vực công nghệ khác. Đối với titan, chuỗi giá trị được định hướng tới titan kim loại, hợp kim titan và các sản phẩm phục vụ hàng không, y sinh, hóa chất, năng lượng. Một tấn quặng nếu chỉ dừng lại ở khai thác và tuyển quặng sẽ có giá trị khác hoàn toàn so với khi được chuyển hóa thành vật liệu có tính năng đặc biệt, nguyên liệu cho cơ khí chính xác, điện tử hay những ngành công nghệ cao. Vì vậy, từ khâu thăm dò, khai thác đến chế biến đều cần áp dụng những công nghệ tiên tiến để hạn chế thấp nhất lãng phí tài nguyên, nâng tầm tài nguyên quý của tỉnh.

Với khoảng 21% nguồn cung vonfram toàn cầu ngoài Trung Quốc, Công ty cổ phần Masan High-Tech Materials đang từng bước khẳng định vai trò là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị vật liệu chiến lược toàn cầu
Khi địa phương đồng thời phát triển công nghiệp chế biến sâu, vật liệu mới và công nghiệp công nghệ cao, các chuỗi giá trị có khả năng liên kết với nhau, từng bước hình thành hệ sinh thái sản xuất có chiều sâu hơn. Khi ấy, tài nguyên khoáng sản không chỉ tạo việc làm, nguồn thu hay sản phẩm luyện kim, mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp tương lai. Định hướng này thể hiện rõ quyết tâm thay đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô, đồng thời tăng cường nghiên cứu, đổi mới công nghệ và thu hút doanh nghiệp có năng lực để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Từ trung tâm điện tử đến hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao
Khác với chè và khoáng sản là những lợi thế đã được hình thành qua nhiều thế hệ, công nghiệp bán dẫn lại là không gian phát triển mới mà Thái Nguyên đang chủ động tạo dựng trên nền tảng công nghiệp hiện có. Hiện nay, công nghiệp bán dẫn được xem là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới. Đối với tỉnh Thái Nguyên, trong những năm gần đây, địa phương đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử quan trọng của cả nước, với sự hiện diện của các tập đoàn lớn và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Nền tảng sản xuất điện tử đó đang tạo điều kiện để Thái Nguyên bước sang một nấc thang mới, từ sản xuất điện tử sang phát triển công nghiệp công nghệ cao, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn.
Một dấu mốc đáng chú ý từ khi Samsung Electro-Mechanics Việt Nam tại Thái Nguyên đã nghiên cứu sản xuất thử nghiệm sản phẩm lưới bóng chip bán dẫn hồi tháng 5/2023 để triển khai sản xuất đại trà ngay sau đó. Đây là một trong những cơ sở để khẳng định Thái Nguyên đã có những mắt xích lớn liên quan đến chuỗi sản xuất bán dẫn.
Đại biểu thực hiện nghi thức khởi công Khu công nghệ số tập trung Yên Bình
Trong giai đoạn mới, tỉnh không dừng lại ở việc thu hút các dự án sản xuất, lắp ráp, mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghệ, trong đó có nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đào tạo nhân lực, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ liên quan. Mới đây, Thái Nguyên khởi công Khu Công nghệ số tập trung Yên Bình với quy mô 197,61 ha, tổng mức đầu tư trên 3.500 tỷ đồng. Dự án được định hướng phát triển theo mô hình hệ sinh thái “Số - Xanh - Net Zero”, tích hợp nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu, sản xuất phần cứng, phần mềm, tài chính, thương mại - dịch vụ, nhà ở chuyên gia và đào tạo nguồn nhân lực. Các lĩnh vực mũi nhọn được xác định gồm AI, bán dẫn, robot, IoT, UAV. Khu Công nghệ số tập trung Yên Bình được kỳ vọng là không gian để hình thành hệ sinh thái công nghệ mới, nơi doanh nghiệp sản xuất, các trung tâm nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ có thể kết nối với nhau.
Chương trình Samsung Innovation Campus (SIC) đào tạo các lĩnh vực công nghệ cốt lõi như AI, IoT, Big Data, bán dẫn tại Đại học Thái Nguyên
Cùng với hạ tầng, yếu tố quyết định sự phát triển của ngành bán dẫn là nguồn nhân lực. Thái Nguyên có lợi thế đặc biệt khi là trung tâm giáo dục - đào tạo lớn, với hệ thống trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đội ngũ nhân lực kỹ thuật. Đại học Thái Nguyên đang triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn, AI; đẩy mạnh giáo dục STEM, STEAM và tăng cường đào tạo các lĩnh vực khoa học cơ bản làm nền tảng cho công nghệ cao. Việc Samsung khánh thành Trung tâm Phát triển nhân tài công nghệ cao Samsung Innovation Campus tại Thái Nguyên tháng 8/2026 cũng bổ sung thêm một mắt xích đáng chú ý cho quá trình hình thành nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao trong lĩnh vực này.
Từ nền tảng công nghiệp điện tử, hạ tầng công nghệ, doanh nghiệp FDI, cơ sở đào tạo và nguồn nhân lực, Thái Nguyên đang từng bước tạo điều kiện để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn, điện tử và công nghệ cao toàn cầu. Đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, trình độ công nghệ cao và quá trình chuẩn bị lâu dài. Bởi vậy, hướng đi của tỉnh không chỉ là thu hút thêm dự án, mà là lựa chọn nhà đầu tư có năng lực công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực và từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất trong nước.
Từ lợi thế đến động lực tăng trưởng mới
Điểm chung trong định hướng phát triển cả ba sản phẩm là đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực xuyên suốt của toàn bộ chuỗi giá trị, qua đó chuyển hóa những lợi thế sẵn có thành sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh cao hơn, mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030. Đây cũng chính là cách Thái Nguyên đang cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Việc phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược được kỳ vọng sẽ tạo thêm những “động lực kép” cho Thái Nguyên vừa nâng tầm những giá trị truyền thống, vừa kiến tạo những giá trị của tương lai. Qua đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước trở thành động lực thực chất để Thái Nguyên phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.