Ngày 01/6, đồng chí Nguyễn Thị Loan, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên ký ban hành Quyết định số 49/2026/QĐ-UBND về ban hành định khung giá rừng trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/6/2026, thay thế các quy định trước đây về khung giá rừng đã không còn phù hợp với tình hình thực tiễn.
Đồng chí Nguyễn Thị Loan, Phó Chủ tịch UBND tỉnh
Theo Quyết định, đối tượng áp dụng gồm các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến khung giá rừng để định giá rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Khung giá rừng được quy định chi tiết theo từng khu vực, loại rừng, trạng thái rừng, trữ lượng và đặc điểm sinh thái, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương trong tỉnh.
Quyết định quy định rõ các trường hợp sử dụng khung giá rừng để định giá rừng. Cụ thể, khung giá được sử dụng để xác định giá rừng khi cho thuê rừng; xác định giá trị rừng phải bồi thường trong trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến rừng, cháy rừng hoặc các thiệt hại khác đối với tài nguyên rừng; xác định giá rừng khi thu hồi rừng; xác định giá trị góp vốn bằng rừng; phục vụ công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước; đồng thời làm căn cứ tính các loại thuế, phí và lệ phí liên quan đến rừng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, khung giá còn được áp dụng trong các trường hợp khác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày càng được tăng cường, góp phần bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững
Theo nội dung các phụ lục kèm theo, khung giá rừng được xây dựng riêng cho từng khu vực trên địa bàn tỉnh, bao gồm các xã, phường thuộc các địa bàn như: Võ Nhai, Dân Tiến, Nghinh Tường,Thần Sa, Phượng Tiến, Lam Vỹ, Bình Yên, Bình Thành... Giá rừng được xác định đối với cả rừng tự nhiên và rừng trồng, phân loại theo rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Trong đó, đối với rừng tự nhiên, giá rừng được xác định dựa trên trạng thái rừng, trữ lượng gỗ hoặc mật độ tre, nứa; đối với rừng trồng, giá được xác định theo loài cây, tuổi rừng, chi phí đầu tư và thu nhập dự kiến.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan hướng dẫn và triển khai áp dụng khung giá rừng trên địa bàn tỉnh; đồng thời theo dõi, tổng hợp khó khăn, vướng mắc phát sinh để tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh khi cần thiết. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng có trách nhiệm định kỳ báo cáo tình hình triển khai công tác định giá rừng, định khung giá rừng theo quy định.
Khung giá rừng mới được áp dụng từ ngày 15/6/2026, làm căn cứ thực hiện các hoạt động định giá rừng trên địa bàn tỉnh
Sở Tài chính phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung khung giá khi có biến động lớn về giá trên thị trường ảnh hưởng đến giá trị rừng. Cơ quan Thuế tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ để xác định các khoản thuế, phí và lệ phí liên quan đến rừng theo quy định hiện hành. UBND các xã, phường tổ chức thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng và triển khai áp dụng khung giá rừng tại địa phương, bảo đảm thống nhất với công tác quản lý đất đai và sử dụng đất lâm nghiệp.
Việc ban hành khung giá rừng mới được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lâm nghiệp, bảo đảm cơ sở pháp lý cho công tác định giá rừng, đồng thời tạo thuận lợi trong quá trình giao rừng, cho thuê rừng, bồi thường thiệt hại, tính thuế và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.