Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, tỉnh có diện tích 837.453 ha trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Thái Nguyên có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú.
Anh-tin-bai

Một góc trung tâm tỉnh Thái Nguyên

1. Vị trí địa lý

Thái Nguyên thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, tỉnh có diện tích 837.453 ha, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, có vị trí địa lý tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng

- Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn

- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ

- Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang

Tỉnh Thái Nguyên có 92 đơn vị hành chính gồm: 15 phường và 77 xã trực thuộc.

2. Địa hình

Thái Nguyên là tỉnh miền núi và trung du, địa hình có tính đa dạng. Khu vực Bắc Kạn (cũ) có địa hình núi cao, cao hơn các tỉnh xung quanh, các mạch núi cánh cung chi phối địa hình. Cánh cung Ngân Sơn chạy liên tục từ nam Cao Bằng dọc theo phía Đông của khu vực Bắc Kạn đến Bắc khu vực Thái Nguyên, tạo thành hình cánh cung rõ rệt, dãy núi này có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Cốc Xô cao 1.131m ở xã Côn Minh. Cánh cung sông Gâm kéo dài dọc theo phía Tây của khu vực Bắc Kạn, khu vực này có đỉnh Phja Bjoóc cao 1.575m là đỉnh núi cao nhất khu vực Bắc Kạn, cùng nhiều đỉnh cao trên 1.000 m. Xen giữa hai cánh cung là nếp lõm thuộc hệ thống thung lũng các sông. Địa hình khu vực Bắc Kạn chia làm 3 khu vực: Phía Đông là cánh cung Ngân Sơn mang tính chất điển hình nhất ở vùng Đông Bắc, có cấu tạo tương đối thuần nhất, chủ yếu thuận lợi phát triển lâm nghiệp; phía Tây là những khối núi cao; khu vực trung tâm dọc thung lũng sông Cầu có địa hình thấp hơn.

Địa hình khu vực Thái Nguyên (cũ) chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng Bắc - Nam. Phía Tây Nam có dãy núi Tam Đảo với đỉnh cao nhất là 1.591 m. Ở phía Bắc có dãy Ngân Sơn từ khu vực Bắc Kạn kéo xuống Võ Nhai, cùng với dãy núi Bắc Sơn có hướng Tây Bắc - Đông Nam. Mực địa hình chủ yếu của khu vực Bắc Kạn là 200 - 600m. Khu vực Thái Nguyên có 3 vùng địa hình: Vùng núi phía Tây và Tây Bắc, vùng núi phía Đông, vùng có địa hình thấp dưới 100 m từ Nam Phú Lương về phía Nam. Phía Đông có dãy núi đá vôi đồ sộ kéo dài từ La Hiên đến Bắc Sơn, cùng những khối núi đá vôi lớn gồm Thần Sa và Phương Giao. Vùng Phú Bình và Phổ Yên phần lớn có địa hình đồng bằng thung lũng sông và đồi thấp. Kiểu đồng bằng đáy thung lũng và cánh đồng phân bổ ở Võ Nhai và các vùng phía Bắc khác của khu vực Thái Nguyên. Đồng bằng giữa núi có thể tìm thấy ở Vạn Phú hay Trại Cau. Vùng có độ dốc 4 - 8° chiếm phần lớn diện tích vùng Phú Bình và Phổ Yên, độ dốc phổ biến của khu vực Thái Nguyên là 16 - 25°, vùng núi đá vôi có độ dốc rất lớn và có khi dốc đứng gần 90°. Địa hình khu vực Bắc Kạn phần lớn có độ dốc trên 15°, chiếm 83,76% diện tích tự nhiên. Tại khu vực Bắc Kạn, xen giữa các dãy đồi núi là những dải đất thấp, tương đối bằng phẳng, như cánh đồng Nam Cường hay Mỹ Thanh.

Anh-tin-bai

Thái Nguyên có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng (ảnh minh họa)

3. Khí hậu

Khí hậu khu vực Bắc Kạn (cũ) có sự phân hóa theo độ cao và hướng núi. Mùa hè có nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông nhiệt độ thấp và mưa ít, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực Bắc Kạn từ 20 - 22°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối từng ghi nhận được là -0,1°C ở thành phố Bắc Kạn (cũ) và -0,6°C ở khu vực Ba Bể, -2°C ở khu vực Ngân Sơn. Nhiệt độ trung bình năm có thể cao hơn 22°C ở thung lũng sông Cầu và vùng cao dưới 200 m. Nhiệt độ trung bình ở khu vực Bắc Kạn từ 25,7 - 27,5°C vào tháng 7, và hạ xuống 12,1 - 14,4°C vào tháng 01. Những nơi cao hơn 1.000 m có thể còn xuống tới 10°C và thấp hơn. Khu vực Bắc Kạn có băng giá, rét đậm và rét hại kéo dài, ảnh hưởng lớn đến cây trồng, vật nuôi. Số giờ nắng trung bình của khu vực là 1.555 giờ, thấp hơn khoảng 100 - 150 giờ/năm so với khu vực đồng bằng Bắc Bộ, các tháng mùa đông chỉ có khoảng 55 - 60 giờ nắng. Khí hậu của khu vực có nhiều thuận lợi cho việc phát triển một số cây trồng cận nhiệt đới và ôn đới.

Khu vực Bắc Kạn có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông Bắc do bị 02 cánh cung Ngân Sơn và sông Gâm che chắn. Lượng mưa trung bình năm ở mức 1.400 mm - 1.600 mm, và tập trung nhiều vào mùa hạ. Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 20 - 25% lượng mưa, tháng mưa ít nhất là tháng 12. Độ ẩm trung bình trên toàn tỉnh là 84%. Khu vực Na Rì và Ba Bể 3 là những nơi có lượng mưa ít hơn. Do địa hình đồi núi chiếm ưu thế tại khu vực Bắc Kạn, nên không khí có khả năng lưu thông không lớn, cộng thêm độ ẩm không khí cao khiến cho khả năng bốc thoát hơi nước của thực vật không nhiều, chỉ khoảng 900 mm/năm.

Khí hậu khu vực Thái Nguyên (cũ) có tính chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn hơn đồng bằng sông Hồng khoảng 0,5 - 1°C. Mưa tại khu vực thường lớn hơn vùng đồng bằng, còn gió thì yếu hơn. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 23°C, giảm còn 20°C ở vùng đồi núi cao khoảng 600 m. Nhiệt độ trung bình dưới 17°C từ tháng 12 đến tháng 2, vùng đồi núi cao hơn 400 m có thể có 5 tháng lạnh. Tháng 01 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình từ 15 - 16°C ở vùng thấp, dưới 12°C ở vùng núi. Vùng thấp có 5 tháng có nhiệt độ trung bình vượt quá 25°C và tháng nóng nhất là tháng 7. Ở các vùng núi mùa nóng chỉ kéo dài 3 tháng, những vùng núi cao như Tam Đảo không có tháng nào có nhiệt độ trung bình vượt quá 25°C. Số giờ nắng trung bình tại khu vực thành phố Thái Nguyên (cũ) là 1.690 giờ, trong tỉnh trời âm u vào mùa đông và chỉ đạt 30% số giờ nắng của mùa hè. Mỗi năm có 20 - 30 ngày có thời tiết nồm trong khu vực, riêng tháng 3 có trên dưới 12 ngày. Gió Tây khô nóng có nguồn gốc từ vịnh Bengal ảnh hưởng đến khu vực Thái Nguyên trong một số ngày vào tháng 5 đến tháng 7.

Lượng mưa trung bình năm tại khu vực Thái Nguyên là 1.600 - 1.900 mm, vùng Phú Bình ở phía Đông Nam có thể dưới 1.450 mm. Phía Đông có ít mưa hơn phía Tây một cách rõ rệt. Vùng chân núi Tam Đảo của khu vực Thái Nguyên có lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm, cao hơn sườn phía Tây của dãy núi này do địa hình dốc hơn và đón gió. Lượng mưa vào tháng 7, tháng 8 thường vượt quá 300 mm và đạt trên 400 mm tại vùng núi đón gió. Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm, lượng mưa vào mùa còn lại chỉ đạt 200 - 400 mm. Phần lớn khu vực Thái Nguyên có 3 - 4 tháng mùa khô, riêng vùng Phú Bình có 5 tháng. Độ ẩm trung bình năm tại khu vực là 82 - 84%. Trong vùng miền núi phía Bắc, chỉ có khu vực Thái Nguyên là có thể phân biệt một mùa khô khá rõ trong tháng 11, tháng 12. Khu vực Võ Nhai và Phú Bình hay xuất hiện thời tiết sương muối vào cuối tháng 12. Ở phía Tây khu vực Thái Nguyên, gió thổi mạnh vào tháng 4 - 5, ở phía Đông thì gió thổi mạnh vào tháng 1, tháng 2

4. Tài nguyên

4.1. Tài nguyên đất

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, tỉnh Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông, lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác. Diện tích nhóm đất nông nghiệp toàn tỉnh là 753.620 ha, chiếm 89,99% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích lâm nghiệp 597.894 ha (diện tích rừng sản xuất là 413.773 ha). Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy. Ngoài sản xuất 4 lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa. Đặc biệt tỉnh Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển cây chè, nổi bật có chè Tân Cương là đặc sản từ lâu nổi tiếng trong nước và trên thế giới.

4.2. Tài nguyên khoáng sản

Anh-tin-bai

Tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên phong phú

- Khu vực Thái Nguyên (cũ) được đánh giá có trữ lượng than lớn thứ 2 cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bổ tập trung ở 02 khu vực huyện Đại Từ (cũ) và huyện Phú Lương (cũ). Tiềm năng than mỡ có khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt, tập trung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm.

Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hoà, Núi Hồng.

- Khu vực Thái Nguyên (cũ) có nhiều khoáng sản kim loại, bao gồm:

+ Quặng Sắt: Có 47 mỏ và điểm quặng, trong đó có 2 cụm mỏ lớn là cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng Fe 58,8% - 61,8% và cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường Quốc lộ 17 có tổng trữ lượng quặng khoảng 30 triệu tấn

+ Quặng Titan: Đã phát hiện 18 mỏ và điểm quặng sa khoáng và quặng gốc phân bổ chủ yếu ở khu vực Phú Lương và Đại Từ, trong đó có 01 mỏ đã thăm dò và khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), thành phần chính của quặng là Ilmenít, tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn

+ Thiếc: Có ở 3 mỏ thuộc khu vực Đại Từ gồm các mỏ Phục Linh, Núi Pháo, Đá Liền; tổng trữ lượng của 3 mỏ này khoảng 13.600 tấn

+ Vonfram ở Núi Pháo, Đại Từ; trữ lượng 110.260.000 tấn

+ Chì kẽm: Tập trung ở Lang Hít (huyện Đồng Hỷ - cũ); Thần Sa, Cúc Đường (huyện Võ Nhai - cũ) quy mô không lớn

+ Vàng: Bao gồm vàng sa khoáng ở khu vực Thần Sa; dãy núi Bồ Cu (huyện Võ Nhai - cũ); khu vực Ngàn Me, Cây Thị (huyện Đồng Hỷ - cũ)

+ Ngoài ra còn có đồng, thủy ngân... trữ lượng quặng nhỏ

+ Khoáng sản phi kim loại: Có pyrít, barít, phốtphorít... trong đó đáng chú ý là phốtphorít ở một số điểm quặng: Núi Văn, Làng Mới, La Hiên. Tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn.

Khu vực Thái Nguyên có nhiều khoáng sản làm vật liệu xây dựng trong đó đáng kể là đất sét xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn. Đá Cacbonat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng, Đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi. Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3 , trong đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng 222 triệu tấn. Ngoài ra gần đây mới phát hiện mỏ sét cao lanh tại xã Phú Lạc có chất lượng tốt, hàm lượng Al2CO3 cao, trữ lượng dự kiến 20 triệu m3 . Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng và đá ốp lát.

- Khu vực Bắc Kạn (cũ): Do đặc điểm lãnh thổ nằm trong hai kiểu kiến trúc địa chất có chế độ địa động khác nhau đã tạo cho khu vực Bắc Kạn có tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, phong phú rất đặc trưng. Hiện nay phát hiện trên địa bàn có 101 mỏ khoáng sản và điểm quặng, phân bổ tập trung ở các khu vực Chợ Đồn, Chợ Mới, Ngân Sơn, Bạch Thông, Ba Bể,... tiềm năng tài nguyên khoáng sản của khu vực Bắc Kạn có thể chia thành ba nhóm:

- Nhóm nhiên liệu: Than đá phát hiện ở khu vực Nghĩa Tá.

- Nhóm khoáng sản kim loại: Gồm vàng, chì, kẽm, quặng sắt, thiếc, mangan. Trong đó vàng, chì, kẽm, quặng sắt là khoáng sản có tiềm năng lớn nhất, phân bổ tập trung ở các khu vực Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông, Ngân Sơn, Ba Bể. Khoáng sản kim loại là một trong những ưu thế của khu vực Bắc Kạn và có ý nghĩa đối với cả nước.

+ Chì - kẽm: Có 70 mỏ và điểm mỏ với tài nguyên dự báo khoảng 3 triệu tấn, phân bổ chủ yếu ở các khu vực Chợ Đồn, Ngân Sơn, Pác Nặm (cũ).

+ Sắt và sắt - mangan: Có 15 mỏ và điểm mỏ với tài nguyên dự báo khoảng 22 triệu tấn, phân bổ trên địa bàn các khu vực Chợ Đồn, Ngân Sơn, Bạch Thông (cũ).

+ Vàng: Có 17 mỏ và điểm quặng có tài nguyên dự báo khoảng 39 tấn, phân bổ trên địa bàn các khu vực Ngân Sơn, Chợ Mới, Bạch Thông, Na Rì, Ba Bể, Pác Nặm (cũ).

+ Antimon: Chủ yếu là các điểm quặng, trữ lượng không lớn, phân bố tại khu vực Yên Cư (cũ).

+ Thiếc: Có tài nguyên dự báo khoảng 2.385 tấn Sn, phân bổ trên địa bàn khu vực Chợ Đồn (Lũng Cháy), Ngân Sơn (Nà Đeng). Nhóm khoáng sản phi kim loại: Các khoáng chất công nhiệp trên địa bàn khu vực có Kaolin, graphit, dolomit và một số khoáng chất công nghiệp khác, tuy nhiên trữ lượng không lớn. Cho tới nay mới chỉ phát hiện graphit ở khu vực Cao Kỳ, Phiên Giề (khu vực Bạch Thông), Na Lang (khu vực Ba Bể) cũ.

- Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng: Khu vực Bắc Kạn (cũ) có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như đá hoa cương, đá granit, đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá vôi, thạch anh, sét gạch ngói, sét xi măng. Trong đó chủ yếu là đá vôi xi măng 150 triệu m3 ; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3 ; sét xi măng trên 10 triệu m3

Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước, tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng... để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước.

thainguyen.gov.vn

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 16A, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Tạ Văn Lộc, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này