Tọa đàm: Truy xuất nguồn gốc - Chìa khóa nâng cao giá trị và niềm tin thị trường
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ minh bạch thông tin sản phẩm mà còn là “chìa khóa” nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ thương hiệu và củng cố niềm tin thị trường. Với thế mạnh về nông sản và các sản phẩm OCOP, Thái Nguyên đang từng bước xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc như một giải pháp chiến lược cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn nhiều khó khăn về dữ liệu, công nghệ và thói quen tiêu dùng. Đây cũng là nội dung được bàn luận trong Chương trình tọa đàm chuyên đề hôm nay.
Anh-tin-bai

MC Ngọc Minh và các khách mời

MC Ngọc Minh: Thưa quý vị và các bạn!

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, minh bạch thông tin sản phẩm trở thành tiêu chí cốt lõi để khẳng định năng lực cạnh tranh của mỗi địa phương, mỗi ngành hàng. Con số hơn 123.000 vụ buôn lậu, gian lận thương mại được phát hiện trong năm 2025 đã cho thấy một thực tế: Nếu không kiểm soát tốt nguồn gốc hàng hóa, niềm tin thị trường sẽ bị bào mòn, kéo theo những hệ lụy đối với sản xuất và tiêu dùng.

Tại Thái Nguyên - địa phương có thế mạnh về nông sản, đặc biệt là chè và các sản phẩm OCOP, việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc là giải pháp mang tính chiến lược để nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và bảo vệ thương hiệu.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc triển khai vẫn còn những điểm nghẽn: Thiếu đồng bộ dữ liệu; ứng dụng công nghệ chưa sâu và chưa hình thành thói quen tiêu dùng dựa trên truy xuất. Vậy làm thế nào để truy xuất nguồn gốc thực sự trở thành “hạ tầng mềm” của nền kinh tế số nông nghiệp? Đó chính là nội dung của Chương trình tọa đàm chuyên đề hôm nay.

Tham gia Chương trình, xin trân trọng giới thiệu: Ông Cao Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; ông Nguyễn Hoàng Bắc, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh; bà Lê Thị Quỳnh Hương, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản; bà Nguyễn Thị Hương Vân, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Hương Vân Trà.

Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời đã tham gia Chương trình.

Trước khi bước vào phần trao đổi, mời quý vị cùng theo dõi clip sau về thực trạng cũng như bài toán về truy xuất nguồn gốc hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

MC Ngọc Minh: Từ thực tiễn công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, ông Nguyễn Hoàng Bắc đánh giá như thế nào về thực trạng hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ hiện nay? Ông có thể chia sẻ một số con số, vụ việc điển hình để làm rõ mức độ phức tạp của vấn đề này?

Anh-tin-bai

Ông Nguyễn Hoàng Bắc, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh

Ông Nguyễn Hoàng Bắc: Từ thực tiễn công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường hiện nay, tình trạng hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ diễn ra hết sức phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, có xu hướng chuyển sang môi trường thương mại điện tử, các mạng xã hội. Riêng trong 5 tháng đầu năm 2026, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra và xử lý 127 vụ việc liên quan đến hàng giả và hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, tổng số tiền phạt là 1,2 tỷ đồng, trị giá hàng hóa trên 900 triệu đồng. Hàng hóa vi phạm chủ yếu là mỹ phẩm, quần áo, giày dép... Một số vụ việc điển hình là: Ngày 8/9/2025, Đội Quản lý thị trường số 1 thuộc Chi cục Quản lý thị trường tỉnh đã kiểm tra một cơ sở sản xuất tại xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện cơ sở đang sản xuất và tàng trữ nhiều hàng hóa là mặt hàng bỉm trẻ em và băng vệ sinh, trị giá hàng hóa trên 900 triệu đồng. Ngày 12/1/2026, Đội Quản lý thị trường số 1 kiểm tra kinh doanh tại xã Tân Cương, phát hiện cơ sở đang tàng trữ 4,5 tấn thịt gà đựng trong các bao ni lông, không rõ nguồn gốc xuất xứ, tổng trị giá trên 70 triệu đồng.

MC Ngọc Minh: Thưa ông Cao Minh Hải, từ góc độ quản lý nhà nước, ông có thể cho biết vai trò của truy xuất nguồn gốc trong phát triển kinh tế, nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh của địa phương? Và hiện nay tỉnh Thái Nguyên đã triển khai những nền tảng, cơ chế, chính sách nào để hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã trong việc áp dụng truy xuất nguồn gốc?

Anh-tin-bai

Ông Cao Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ

Ông Cao Minh Hải: Truy xuất nguồn gốc là hoạt động theo dõi, giám sát, xác định thông tin của sản phẩm, hàng hóa theo thời gian, địa điểm, qua từng công đoạn của chuỗi cung ứng. Dữ liệu truy xuất nguồn gốc bao gồm các thông tin về chất lượng, an toàn sản phẩm và những thông tin cơ bản của sản phẩm, hàng hóa. Những nội dung này đã được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP; các thông tin cơ bản như tên sản phẩm hàng hóa, hình ảnh hàng hóa, đơn vị sản xuất, địa chỉ, xuất xứ phải thể hiện đầy đủ và nhiều thông tin khác nữa.

Trước đó, năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 100/QĐ-TTg phê duyệt "Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc", đánh dấu việc đưa khái niệm này vào quản lý nhà nước một cách hệ thống. Năm 2024, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN quy định về quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Đến năm 2025, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tiếp đó Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật. Một điểm đáng chú ý là các bộ, ngành phải phân loại hàng hóa theo 3 mức độ rủi ro: Thấp, trung bình và cao. Đối với nhóm hàng hóa có mức độ rủi ro cao, bắt buộc phải thực hiện truy xuất nguồn gốc từ ngày 01/7/2026 và các bộ, ngành sẽ quy định lộ trình cụ thể đối với từng mặt hàng.

Về vai trò của truy xuất nguồn gốc, dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể khẳng định truy xuất nguồn gốc giữ vai trò quan trọng. Đây là công cụ giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng, kiểm soát chất lượng và minh bạch sản phẩm, tạo niềm tin sản phẩm trên thị trường và phát triển bền vững. Đồng thời, truy xuất nguồn gốc cũng giúp gia tăng giá trị sản phẩm khi làm rõ xuất xứ, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn áp dụng. Trong bối cảnh hội nhập, đây cũng là yêu cầu tất yếu để để hàng hóa tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước và quốc tế.

Về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã áp dụng truy xuất nguồn gốc, đối với Thái Nguyên, trên cơ sở các chương trình, đề án của Chính phủ, thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ, thời gian qua tỉnh đã triển khai một số nền tảng, cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, tỉnh xây dựng và vận hành hệ thống phần mềm quản lý chất lượng nông sản, cho phép cập nhật dữ liệu sản xuất, gắn mã QR và phục vụ người tiêu dùng truy xuất thông tin sản phẩm; triển khai cấp mã số vùng trồng, định vị GPS, hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ truy xuất và xuất khẩu. Năm 2021, HĐND tỉnh cũng ban hành Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm, trong đó có nội dung hỗ trợ truy xuất nguồn gốc. Ngoài ra, các ngành đã lồng ghép truy xuất nguồn gốc với các chương trình như OCOP, VietGAP, phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, hỗ trợ tem điện tử truy xuất nguồn gốc sử dụng mã QR code cho các doanh nghiệp, hợp tác xã…

MC Ngọc Minh: Thưa bà Lê Thị Quỳnh Hương, đối với lĩnh vực nông, lâm sản và thủy sản - nhóm hàng liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, công tác kiểm soát chất lượng gắn với truy xuất nguồn gốc hiện nay đang gặp những khó khăn, thách thức gì?

Anh-tin-bai

Bà Lê Thị Quỳnh Hương, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản

Bà Lê Thị Quỳnh Hương: Về việc gắn công tác kiểm soát chất lượng sản phẩm với truy xuất nguồn gốc, nhìn chung tất cả các lĩnh vực hàng hóa đều gặp những khó khăn, thách thức nhất định. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực nông nghiệp, trong quá trình tổ chức triển khai chúng tôi gặp nhiều vướng mắc cần được khắc phục để việc truy xuất nguồn gốc đạt hiệu quả.

Thứ nhất, sản xuất nông, lâm, thủy sản hiện nay chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán. Sự liên kết giữa các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ trong chuỗi giá trị thực phẩm còn hạn chế. Do quy mô sản xuất nhỏ, việc cung cấp thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc chủ yếu vẫn được ghi chép thủ công trên sổ sách, trong khi việc cập nhật lên các hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử còn rất ít. Hình thức này mới được thực hiện tương đối ở các doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc cơ sở sản xuất quy mô lớn và tập trung chủ yếu vào một số sản phẩm chủ lực như chè và một số sản phẩm chăn nuôi.

Thứ hai, việc công khai, minh bạch thông tin trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nhiều cơ sở chưa đầy đủ. Một số thông tin được đưa lên chủ yếu phục vụ quảng bá sản phẩm, chưa phản ánh đầy đủ dữ liệu phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, khi xảy ra sự cố mất an toàn thực phẩm, việc truy tìm nguồn gốc sản phẩm hoặc thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa có một hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, có khả năng kết nối giữa các sở, ngành, địa phương và các cơ sở sản xuất. Việc thiếu một nền tảng dữ liệu thống nhất khiến quá trình cập nhật, chia sẻ và khai thác thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc còn hạn chế.

MC Ngọc Minh: Thưa bà Nguyễn Thị Hương Vân, từ thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, trước khi áp dụng truy xuất nguồn gốc, sản phẩm của hợp tác xã đã gặp những khó khăn gì trong việc tiếp cận thị trường, đặc biệt là các kênh phân phối hiện đại? Và điều gì đã thúc đẩy đơn vị quyết định chuyển đổi sang áp dụng truy xuất nguồn gốc?

Anh-tin-bai

Bà Nguyễn Thị Hương Vân, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Hương Vân Trà

Bà Nguyễn Thị Hương Vân: Cuộc hành trình của Hương Vân Trà gắn với tiêu chí sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, đó là cuộc hành trình rất dài, có sự phối hợp với bà con Nhân dân, được Sở Khoa học và Công nghệ cấp mã số vùng trồng, minh bạch về quản lý và nâng uy tín sản phẩm của Hợp tác xã (HTX) Hương Vân Trà. Trong 2 năm đó, việc truy xuất nguồn gốc bị dở dang, năm nay tiếp tục được cập nhật nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vừa qua, Hương Vân Trà đã được Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trực tiếp lên tận nơi hướng dẫn về quy chuẩn.

Là một trong những HTX đầu tiên được Bộ Công an hỗ trợ và cấp tem truy xuất nguồn gốc để chứng thực hệ sinh thái xanh của trà, minh bạch về quy trình chăm sóc cũng như ngày giờ thu hái để bảo vệ người tiêu dùng và doanh nghiệp. Mỗi khâu sẽ có một tem riêng, đó là sự cần thiết để khẳng định vị thế sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam nói chung và sản phẩm của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, đặc biệt là sản phẩm trà.

MC Ngọc Minh: Từ thực tế tại cơ sở cho thấy, việc triển khai truy xuất nguồn gốc vẫn còn không ít vướng mắc. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, vấn đề này được nhìn nhận như thế nào thưa ông Cao Minh Hải?

Ông Cao Minh Hải: Đây là thực tế mà chúng tôi nhận thấy trong quá trình triển khai truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh thời gian qua. Bên cạnh những kết quả bước đầu, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Trước hết, nhận thức và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất còn hạn chế; nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ chưa quen với việc ghi chép, số hóa dữ liệu và minh bạch thông tin trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, thực hiện truy xuất nguồn gốc cũng làm phát sinh thêm chi phí về hạ tầng công nghệ, tem nhãn, phần mềm quản lý, nhân lực vận hành và duy trì cơ sở dữ liệu… của doanh nghiệp. Hạ tầng kỹ thuật và tính liên thông của các hệ thống truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ giữa Trung ương và địa phương; hiện vẫn tồn tại nhiều nền tảng khác nhau, thiếu chuẩn chung nên khó kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Ngoài ra, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định pháp lý tuy đã được ban hành nhưng chưa hoàn thiện, đồng bộ; một số lĩnh vực chưa có quy định bắt buộc, chỉ mang tính chất hướng dẫn và khuyến khích. Công tác kiểm tra, giám sát và hậu kiểm còn gặp khó khăn do chưa có chế tài xử lý cụ thể; nguồn lực cả về con người, kinh phí, trang thiết bị hạn chế; dữ liệu truy xuất nguồn gốc chưa được đầy đủ, kết nối đồng bộ. Để triển khai thực hiện tốt hơn nội dung về truy xuất nguồn gốc trong thời gian tới, cần phải tập trung khắc phục những tồn tại, khó khăn vướng mắc nêu trên.

Anh-tin-bai

Cán bộ, nhân viên của HTX Chè Hảo Đạt thực hiện gắn tem truy xuất cho sản phẩm trà

MC Ngọc Minh: Bên cạnh việc triển khai, đáng lo ngại hiện nay là những “kẽ hở” trong truy xuất nguồn gốc đang bị lợi dụng. Thưa ông Nguyễn Hoàng Bắc, qua kiểm tra thị trường, lực lượng chức năng đã phát hiện những “kẽ hở” nào, nhất là tình trạng làm giả hoặc lợi dụng mã QR? Hiện có những biện pháp gì để kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận này?

Ông Nguyễn Hoàng Bắc: Qua công tác kiểm tra, kiểm soát trên thị trường, lực lượng chức năng đã phát hiện nhiều vi phạm liên quan đến truy xuất nguồn gốc hàng hóa và việc sử dụng mã QR. Một số cơ sở tự in mã QR trôi nổi trên thị trường nhưng không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; thông tin thể hiện trên sản phẩm không chính xác hoặc không đầy đủ. Nhiều sản phẩm không có mã QR, hoặc có mã nhưng không liên kết đến nhà sản xuất, nhà phân phối. Thậm chí, có trường hợp khi quét mã chỉ hiển thị hình ảnh hoặc nội dung bằng tiếng nước ngoài, gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc tiếp cận và hiểu thông tin về sản phẩm.

Để xử lý tình trạng này, lực lượng quản lý thị trường khi kiểm tra hàng hóa sẽ kết hợp nhiều biện pháp. Ngoài việc kiểm tra trực tiếp sản phẩm, lực lượng chức năng còn đối chiếu với hóa đơn, chứng từ, hồ sơ tự công bố sản phẩm; đồng thời liên hệ với nhà sản xuất, nhà phân phối để xác minh nguồn gốc của hàng hóa. Đối với các trường hợp vi phạm liên quan đến truy xuất nguồn gốc, cơ quan chức năng sẽ lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

MC Ngọc Minh: Một khía cạnh quan trọng khác là mối liên hệ giữa truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, yếu tố tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Thưa bà Lê Thị Quỳnh Hương, việc gắn truy xuất nguồn gốc với kiểm soát an toàn thực phẩm hiện nay đã thực sự hiệu quả chưa? Làm thế nào để dữ liệu truy xuất phản ánh đúng chất lượng và độ an toàn của sản phẩm?

Bà Lê Thị Quỳnh Hương: Như chúng ta đã biết những quy định về truy xuất nguồn gốc không phải là quy định mới, trong công tác quản lý giám sát an toàn chất lượng phẩm thì đây là điều kiện bắt buộc, điều này thể hiện rất rõ trong Luật An toàn thực phẩm cũng như các quy định về quy trình sản xuất trong lĩnh vực nông sản, thủy sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 17/2021/TT-BNNPTNT ngày 20/12/2021, trong đó quy định rất chi tiết về thực hiện truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý sản phẩm không đảm bảo thông qua truy xuất nguồn gốc.

Đối với tỉnh Thái Nguyên, từ năm 2020, đã ban hành Kế hoạch thực hiện việc truy xuất nguồn gốc trên sản phẩm nông, lâm sản, thủy sản trên địa bàn tỉnh.

Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện đạt được một số kết quả như: Tổ chức tập huấn tuyên truyền hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức thẩm định, cấp giấy chứng nhận, xác nhận chuỗi sản phẩm an toàn, ký cam kết. Tất cả những quy định này trong đó đều phải có những điều kiện cần phải làm rõ quá trình sản xuất thông qua các thông tin ghi chép trên sổ sách hoặc môi trường điện tử. Đặc biệt, tỉnh Thái Nguyên đã đầu tư xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm lĩnh vực an toàn thực phẩm của tỉnh. Hiện nay, chúng ta đã có quy định đối với những sản phẩm OCOP 3 - 4 sao bắt buộc phải có truy xuất nguồn gốc trên môi trường điện tử trước khi được đưa ra tiêu thụ trên thị trường. Những việc này góp phần hiệu quả trong công tác quản lý chất lượng sản phẩm hiện nay.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn, bất cập, đặc biệt là việc truy xuất trên môi trường điện tử. Theo chúng tôi để thực hiện hiệu quả việc truy xuất nguồn gốc gắn với công tác quản lý về chất lượng, chúng ta cần tập trung vào 4 vấn đề như sau: Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình ghi chép, thông tin lữu trữ và số hóa dữ liệu ngay từ khâu sản xuất ban đầu. Thứ hai, tích hợp thông tin kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, mã số vùng trồng vào hệ thống truy xuất. Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm, đảm bảo dữ liệu được cập nhật trung thực, đầy đủ đúng với quá trình sản xuất sản phẩm. Thứ tư, cần thống nhất triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chung trên địa bàn toàn quốc để kết nối các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Hiện nay, Chính phủ đã xây dựng hệ thống phần mềm để truy xuất nguồn gốc hàng hóa, kết hợp 3 Bộ: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường. Như chị Hương Vân đã chia sẻ, Thái Nguyên cũng được chọn thí điểm đối với sản phẩm trà để thực hiện từ ngày 1/7/2026 trong toàn quốc.

Anh-tin-bai

Khách hàng kiểm tra thông tin trên tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm của Hợp tác xã Hương Vân Trà

MC Ngọc Minh: Rõ ràng, để truy xuất nguồn gốc đi vào thực chất, không chỉ cần cơ chế mà còn đòi hỏi năng lực từ phía đơn vị sản xuất. Thưa bà Nguyễn Thị Hương Vân, trong quá trình triển khai, HTX đang gặp những rào cản nào về chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ và nhân lực? Những khó khăn này có phải là trở ngại lớn đối với các đơn vị sản xuất quy mô nhỏ hay không?

Bà Nguyễn Thị Hương Vân: Đối với các HTX và cơ sở sản xuất nhỏ, khó khăn lớn nhất hiện nay là thay đổi nhận thức và hướng dẫn bà con tiếp cận công nghệ. Nhiều người dân chưa quen với việc sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật thông tin sản xuất, theo dõi quy trình hay tích hợp dữ liệu lên hệ thống truy xuất nguồn gốc. Để khắc phục vấn đề này, chúng tôi đang triển khai theo từng tổ sản xuất, mỗi tổ bố trí từ 1 đến 2 người phụ trách hỗ trợ, hướng dẫn bà con thực hiện đúng quy trình và cập nhật dữ liệu từng bước.

Bên cạnh đó, việc vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều bộ phận, từ sản xuất, quản lý đến tiêu thụ sản phẩm. Các thành viên HTX cũng đang được tham gia các lớp tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên cùng các sở, ngành liên quan.

Đây mới là bước khởi đầu của quá trình chuyển đổi sang sản xuất minh bạch, số hóa và chuyên nghiệp hơn. Dù còn khó khăn, nhưng chúng tôi xác định đây là hướng đi tất yếu để nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

MC Ngọc Minh: Thưa ông Cao Minh Hải, từ góc độ quản lý nhà nước, hiện nay tỉnh đã và đang có những chính sách, giải pháp nào hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã triển khai truy xuất nguồn gốc? Đồng thời, thời gian tới ngành sẽ định hướng ra sao trong việc chuẩn hóa hệ thống, tích hợp và liên thông dữ liệu, hướng tới xây dựng nền tảng đồng bộ, hiệu quả tại Thái Nguyên?

Ông Cao Minh Hải: Để thực hiện tốt công tác truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm hàng hóa trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, các cấp, các ngành cần tiếp tục tăng cường triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó vai trò tham mưu của cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Sở Khoa học và Công nghệ, là rất quan trọng.

Trước hết, cần tập trung triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh. Trong đó, đáng chú ý là Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 28/4/2026 của HĐND tỉnh về hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thay thế Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND. Nghị quyết này có nhiều nội dung hỗ trợ thông qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, HTX và cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh ứng dụng công nghệ, trong đó có việc xây dựng và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Vì vậy, cần tăng cường nguồn lực và hướng dẫn các đơn vị tiếp cận, triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ này.

Bên cạnh đó, HĐND tỉnh cũng đã ban hành Nghị quyết số 08/2025/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ phát triển ngành chè - một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh. Nghị quyết đề ra nhiều nội dung hỗ trợ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, trong đó có việc áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè. Đây là những chính sách quan trọng, cần được các cấp, các ngành tích cực tuyên truyền, hướng dẫn để các doanh nghiệp, HTX và cơ sở sản xuất tiếp cận và triển khai hiệu quả.

Thông qua việc thực hiện đồng bộ các chính sách này, công tác truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm hàng hóa trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực như chè, sẽ từng bước được nâng cao, góp phần tăng tính minh bạch, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo điều kiện để sản phẩm của Thái Nguyên tiếp cận tốt hơn với các thị trường lớn.

Anh-tin-bai

Khách hàng quét mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm na (Ảnh tư liệu: Đồng Văn Thưởng)

MC Ngọc Minh: Một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả truy xuất nguồn gốc là hành vi người tiêu dùng. Thưa ông Nguyễn Hoàng Bắc, hiện nay nhiều người vẫn chưa có thói quen quét mã truy xuất khi chọn mua sản phẩm. Theo ông, nguyên nhân của tình trạng này là gì? Và cần những giải pháp nào từ phía cơ quan quản lý và doanh nghiệp để từng bước thay đổi hành vi, hình thành thói quen tiêu dùng minh bạch trong xã hội?

Ông Nguyễn Hoàng Bắc: Hiện nay, việc người tiêu dùng chưa có thói quen quét mã truy xuất nguồn gốc khi mua hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Trước hết, nhận thức của một bộ phận người dân về vai trò, ý nghĩa của truy xuất nguồn gốc còn hạn chế; nhiều người chưa thấy được lợi ích thiết thực của việc kiểm tra thông tin sản phẩm đối với sức khỏe và quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm có mã truy xuất nhưng thông tin cung cấp còn sơ sài, thiếu cập nhật hoặc khó hiểu, dẫn đến tâm lý “quét cũng như không”. Ngoài ra, thói quen mua sắm nhanh, ưu tiên giá cả, thuận tiện, nhanh gọn, nên việc truy xuất vẫn còn hạn chế.

Giải pháp đưa ra là: Để từng bước thay đổi thói quen và hình thành văn hóa tiêu dùng minh bạch, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Chi cục Quản lý thị trường cũng đã triển khai, chỉ đạo các Đội Quản lý thị trường chủ động phối hợp, hỗ trợ cơ sở kinh doanh chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Về phía doanh nghiệp, cần chú trọng đầu tư hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ, chính xác, dễ sử dụng; cần có hình thức khuyến khích người tiêu dùng như tích điểm, ưu đãi khi quét mã để người tiêu dùng thấy được lợi ích khi truy xuất.

MC Ngọc Minh: Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe, đặc biệt là đối với các thị trường xuất khẩu, việc siết chặt kiểm soát là yêu cầu tất yếu. Thưa bà Lê Thị Quỳnh Hương, trong thời gian tới, ngành sẽ có những giải pháp gì để tăng cường kiểm soát chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, gắn chặt với hệ thống truy xuất nguồn gốc? Đặc biệt, làm thế nào để dữ liệu truy xuất không chỉ đầy đủ, mà còn phản ánh trung thực chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu?

Bà Lê Thị Quỳnh Hương: Để tăng cường kiểm soát chất lượng nông, lâm sản và thủy sản gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc, hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tập trung tham mưu UBND tỉnh triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở đã xây dựng Kế hoạch triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Trong năm 2026, tỉnh sẽ triển khai thí điểm truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm chè trên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Chúng tôi lựa chọn 6 HTX đại diện cho các mô hình sản xuất, tiêu thụ đặc trưng của tỉnh để thực hiện thí điểm. Sau ngày 1/7, ngành sẽ tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm và từng bước nhân rộng đối với sản xuất chè cũng như các sản phẩm nông, lâm sản, thủy sản khác trên địa bàn.

Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cấp hệ thống quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản; đồng thời khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai dữ liệu trong toàn bộ quá trình từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Đây là nền tảng quan trọng góp phần thực hiện truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ quản lý chất lượng sản phẩm. Một giải pháp nữa là tăng cường tuyên truyền, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh về truy xuất nguồn gốc, cũng như các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế.

Song song với đó, ngành tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh. Hiện nay, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã trình HĐND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến truy xuất nguồn gốc như: Hỗ trợ tem truy xuất, hỗ trợ kinh phí xây dựng vùng trồng đạt chứng nhận an toàn, hỗ trợ cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất nhằm mở rộng diện tích sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ và các tiêu chuẩn chất lượng an toàn khác.

Ngoài ra, các cơ sở sản xuất thực hiện truy xuất nguồn gốc sẽ được hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, nhất là đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đặc biệt, ngành tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để bảo đảm dữ liệu truy xuất được cập nhật chính xác, minh bạch và tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm.

Anh-tin-bai

Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức tập huấn về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (ảnh minh họa)

MC Ngọc Minh: Ở góc độ doanh nghiệp, HTX - những đơn vị trực tiếp triển khai, hiệu quả của truy xuất nguồn gốc được thể hiện rõ nét nhất qua thị trường. Thưa bà Nguyễn Thị Hương Vân, sau khi áp dụng truy xuất nguồn gốc vào sản xuất và kinh doanh, HTX đã ghi nhận những thay đổi cụ thể nào về giá trị sản phẩm, khả năng tiếp cận thị trường cũng như niềm tin của khách hàng? Liệu truy xuất nguồn gốc có thực sự trở thành “đòn bẩy” giúp nâng tầm sản phẩm của đơn vị hay không?

Bà Nguyễn Thị Hương Vân: Truy xuất nguồn gốc là nền tảng quan trọng để xây dựng niềm tin trên thị trường trong nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, việc minh bạch thông tin sản phẩm không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của thị trường, cả trong hiện tại và tương lai. Thông qua truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin về sản phẩm, đồng thời giúp bảo vệ các cơ sở sản xuất chân chính trước tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng. Bên cạnh đó, việc minh bạch dữ liệu còn góp phần nâng cao giá trị nông sản và tăng năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Đối với sản phẩm của Hương Vân Trà, việc áp dụng truy xuất nguồn gốc đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng để khẳng định uy tín trên thị trường. Khi sản phẩm được đưa ra thị trường, khách hàng có thể quét mã QR trên bao bì để truy cập các thông tin về sản phẩm chính hãng, quy trình sản xuất, chế biến và đóng gói. Điều này không chỉ giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm chứng nguồn gốc sản phẩm mà còn tạo dựng niềm tin, giúp khách hàng yên tâm hơn khi lựa chọn và sử dụng sản phẩm.

MC Ngọc Minh: Và để khép lại chương trình, có lẽ điều mà nhiều người quan tâm nhất lúc này chính là: Đâu là giải pháp mang tính then chốt để truy xuất nguồn gốc thực sự đi vào thực chất? Thưa các vị khách mời, nếu chỉ lựa chọn giải pháp quan trọng nhất, các vị cần làm gì để truy xuất nguồn gốc không còn mang tính hình thức, mà thực sự trở thành công cụ quản lý hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và củng cố niềm tin thị trường?

Bà Nguyễn Thị Hương Vân: Chúng ta phải thực hiện ngay từ bước ban đầu, để bà con cũng như HTX, tổ sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận với chuyển đổi số, cập nhật mọi thông tin từ ban đầu. Hiện nay, HTX cùng với bà con cùng tìm ra giải pháp để thực hiện tốt nhất việc minh bạch sản phẩm và sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

Ông Cao Minh Hải: Ngành sẽ tham mưu cho tỉnh triển khai thực hiện Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi năm 2025 và được cụ thể hóa bởi Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ. Ngành tập trung triển khai những điểm mới, những sản phẩm theo các bộ, ngành phê duyệt bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc; tăng cường hướng dẫn cho doanh nghiệp, HTX đảm bảo theo quy trình của các bộ, ngành quản lý đã đề ra. Đồng thời, việc truy xuất nguồn gốc không phải mới những chưa thành thói quen với các doanh nghiệp, vì vậy cần tăng cường tuyên truyền, triển khai hiệu quả chính sách của tỉnh đã ban hành.

Ông Nguyễn Hoàng Bắc: Giải pháp mang tính then chốt là xây dựng và vận hành một hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, minh bạch và có tính bắt buộc gắn với trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ chuỗi sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, phải tăng cường công tác tuyên truyền để người dân hiểu được trách nhiệm và quyền lợi của mình. Về phía lực lượng quản lý thị trường sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi gian lận.

Bà Lê Thị Quỳnh Hương: Tôi thấy còn nhiều tồn tại, khó khăn cần nhiều giải pháp theo tôi đó là chuẩn hóa và minh bạch dữ liệu truy xuất gắn với trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi giá trị. Chúng ta đều biết công nghệ có thể đầu tư, hệ thống có thể xây dựng, nhưng nếu dữ liệu không trung thực, đầy đủ thì truy xuất nguồn gốc sẽ không phát huy được hiệu quả cao, đặc biệt trong công tác quản lý.

Khi mỗi khâu từ sản xuất, chế biến đến phân phối đều chịu trách nhiệm với dữ liệu mình cung cấp và dữ liệu đó được kiểm tra, giám sát thường xuyên, đảm bảo tính trung thực thì truy xuất nguồn gốc mới thực sự đi vào thực chất, trở thành công cụ quản lý cũng như tạo niềm tin cho sản phẩm khi đưa ra thị trường.

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Khách hàng quét mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm

MC Ngọc Minh: Thưa quý vị! Trong nền kinh tế số, minh bạch không chỉ là yêu cầu của thị trường, mà đã trở thành nền tảng để xây dựng và củng cố niềm tin.

Truy xuất nguồn gốc, nếu được triển khai một cách đồng bộ, chuẩn hóa dữ liệu và gắn với trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi giá trị, sẽ không chỉ giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm, mà còn mở ra cơ hội nâng cao giá trị, khẳng định thương hiệu hàng hóa Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đối với những địa phương có thế mạnh nông sản như Thái Nguyên, đây chính là bước đi quan trọng để chuyển từ sản xuất truyền thống sang kinh tế giá trị, từ niềm tin cảm tính sang niềm tin được kiểm chứng bằng dữ liệu và công nghệ.

Chương trình tọa đàm xin được khép lại tại đây. Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời và quý khán giả đã quan tâm theo dõi.

thainguyen.gov.vn

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 16A, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Tạ Văn Lộc, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này