Năm 1965, chàng thanh niên Nguyễn Văn Tấn (sinh năm 1942, dân tộc Tày, xã Cẩm Giàng) tình nguyện lên đường nhập ngũ, trở thành người lính sửa chữa xe đặc chủng. Với những đóng góp xuất sắc trong kháng chiến, năm 1973, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tấn
Đóng góp thầm lặng
Từ nhỏ ông Nguyễn Văn Tấn đã ham học hỏi, yêu thích tìm tòi, sau nhiều tháng huấn luyện tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Kạn (cũ), ông được phân công bảo vệ cầu An Phú (tỉnh Thái Nguyên). Năm 1967, ông được cử đi học Trung cao cơ điện, chuyên sửa chữa xe tăng, xe kéo pháo. Sau đó, khi ra trường ông được phân công công tác tại Cục Quản lý xe, Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng). Từ đây, ông cùng đơn vị hành quân qua nhiều chiến trường, từ Nghệ An đến Buôn Ma Thuột, thực hiện nhiệm vụ sửa chữa xe đặc chủng và hỗ trợ chiến đấu.
Nhớ lại những năm tháng gian khổ, ông Nguyễn Văn Tấn cho biết, đời sống khi ấy vô cùng thiếu thốn, bữa đói, bữa no. Để bảo đảm an toàn, bộ đội phải đào hố sâu như ao làm nơi ăn ở, phủ bạt và ngụy trang bằng lá cây. Vào những ngày mưa, nước dâng ngập hố, mọi người phải đứng suốt để tránh bị ướt.
"Cuộc sống khi đó vô cùng thiếu thốn, có những điều kể lại hôm nay khó hình dung. Ngay cả giẻ lau, vật dụng thiết yếu trong sửa chữa xe cũng không có, anh em phải cắt ống tay áo, ống quần để sử dụng. Thiếu vật tư, linh kiện và dụng cụ, nhiều chi tiết phải tự chế, như dùng săm cao su thay phớt chắn dầu. Công việc sửa chữa xe đặc chủng vì thế đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo cao; nhiều phương tiện hư hỏng nặng phải tháo lắp, ghép nối linh kiện để tiếp tục sử dụng. Mỗi máy móc đều rất quý, nên ai cũng nỗ lực tìm cách khắc phục, thức ngày, thức đêm để hoàn thành nhiệm vụ" - Ông Tấn kể lại.
Suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt, ở bất cứ chiến trường nào đơn vị cần, ông Nguyễn Văn Tấn cùng đồng đội đều có mặt, cẩn trọng sửa chữa, thu hồi, bảo đảm kỹ thuật cho các loại xe và vũ khí đặc chủng phục vụ chiến đấu. Với ông, mỗi chiếc xe được sửa xong không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ mà còn là tăng thêm vũ khí, sức mạnh cho đồng đội nơi đầu chiến tuyến. Theo ông “sửa được một xe là mừng rơi nước mắt vì cuộc chiến đang cam go, sửa được xe nào đồng nghĩa với đồng đội mình lại có vũ khí, có xe để đi chiến đấu”.
Từ năm 1967 đến 1973, với tinh thần trách nhiệm cao và sự tận tụy trong công việc, ông Nguyễn Văn Tấn nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Tháng 12/1973, khi đang công tác tại Quảng Bình, ông vinh dự được tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nông Quang Nhất thăm và tặng quà Anh hùng Nguyễn Văn Tấn nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025)
Những năm tháng không quên
Trong câu chuyện của mình, Anh hùng Nguyễn Văn Tấn nhắc nhiều nhất đến niềm tự hào khi được góp sức bảo vệ Tổ quốc, cùng tình cảm gắn bó, chân thành của đồng đội và Nhân dân nơi đơn vị đóng quân. Chiến tranh, ở bất cứ vị trí nào cũng tiềm ẩn hiểm nguy; với ông là những lần dò dẫm giữa chiến trường để thu hồi vũ khí, phương tiện của địch, hay những đêm tham gia phá bom từ trường, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng.
Ông nhớ lại năm 1971, trong một lần đơn vị đi thu hồi xe hỏng, vô tình dừng nghỉ gần cây nhiệt đới của địch mà không hay biết. Chỉ ít phút sau, máy bay địch theo định vị kéo đến ném bom. May mắn bên cạnh đó là vực sâu, bom rơi xuống vực và nổ nên không ai bị thương.
Năm 1972, trong quá trình phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đơn vị của ông phải hành quân qua khu vực bị rải bom B52. Đi trong đêm, khi gần tới giữa bãi, xe bất ngờ hỏng, buộc phải cài sẵn dây cáp chờ các xe khác hỗ trợ kéo. Do xe xích kéo pháo có trọng tải lớn, việc cứu kéo gặp nhiều khó khăn, phải đến lượt xe thứ bảy đi qua mới đưa được phương tiện ra khỏi khu vực nguy hiểm, khi thời điểm địch chuẩn bị ném bom đã cận kề.
Cũng trong năm 1972, tại chiến trường Quảng Trị, trong một lần cùng đơn vị đi thu hồi phương tiện của địch, khi tiếp cận khu vực xe hỏng, ông phát hiện mùi nước hoa bất thường. Nhận thấy dấu hiệu nghi vấn, ông kịp thời cảnh giác, quan sát và phát hiện địch đang phục kích, nhờ đó cùng đồng đội rút lui an toàn, bảo toàn lực lượng.
Nhắc đến những kỷ niệm sâu sắc nhất, ông Nguyễn Văn Tấn cho rằng đó là tình đồng đội và nghĩa quân dân. Ông nhớ lại: “Ngày ấy thương nhau lắm. Khi đang công tác ở Quảng Bình, có đồng chí bị sốt rét, chúng tôi phải đi dọc khe suối bắt kỳ nhông nấu cháo bồi dưỡng để anh em hồi sức, bởi suốt thời gian dài chỉ ăn cháo bí đỏ, không đủ sức chiến đấu.”
Mặc dù tuổi đã cao nhưng với trí nhớ vẫn rất minh mẫn của mình, ông Tấn kể lại: Năm 1972, khi đơn vị đang sửa chữa xe thì bị máy bay địch ném bom, một đồng đội hy sinh. Thương bạn, cả đơn vị nhặt các hòm đạn để ghép làm áo quan. Khi công việc gần hoàn tất, một cụ già người Vân Kiều đi qua, biết chuyện đã tặng một chiếc áo quan bằng gỗ tốt để lo hậu sự cho bộ đội. Ông xúc động nhớ lại: “Cả đơn vị khi ấy ai cũng rơm rớm nước mắt. Đến nay, chúng tôi vẫn giữ liên lạc với gia đình cụ. Dù cụ đã mất, mỗi dịp gặp mặt, đơn vị vẫn mời con cháu của cụ tham dự.”
Một lần khác, tại Thành cổ Quảng Trị, một đồng đội của ông Tấn đang làm nhiệm vụ thu hồi xe của địch thì không may trúng bom và hy sinh. Người dân địa phương đã tổ chức tang lễ và đồng ý cho chôn cất ngay trong vườn nhà. Hòa bình lập lại, gia đình mới đến đưa liệt sĩ về quê. Theo ông Tấn, tại những địa phương đơn vị đóng quân, ông cảm nhận được người dân thương bộ đội như con, như người thân trong gia đình.
Anh hùng Nguyễn Văn Tấn bên chắt nội
Không trực tiếp cầm súng nơi tuyến đầu, nhưng với sự bền bỉ, tận tụy trong công việc, ông Nguyễn Văn Tấn đã góp phần quan trọng giữ vững "mạch máu" giao thông, vũ khí cho chiến trường miền Nam; đóng góp thầm lặng vào những chiến công vang dội của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Từ những câu chuyện nơi chiến trường, Anh hùng Nguyễn Văn Tấn nhắn nhủ: Để có được cuộc sống hôm nay là cả một chặng đường gian nan, hy sinh. Là thế hệ đi trước, ông mong lớp trẻ luôn giữ vững tinh thần yêu nước. Đất nước ta đang đổi mới mạnh mẽ, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng không thể so với những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà cha ông đã trải qua. Ông tin rằng, với truyền thống kiên cường, dân tộc ta sẽ tiếp tục vượt qua, và thế hệ trẻ cần đoàn kết, lạc quan, vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, góp sức xây dựng đất nước ngày càng phát triển.