Chuyển đổi số nâng tầm giá trị chè Thái Nguyên
Với hơn 22 nghìn ha chè, sản lượng khoảng 280 nghìn tấn mỗi năm, chiếm trên 18% diện tích và hơn 24% sản lượng chè búp tươi của cả nước, Thái Nguyên đang từng bước đưa chuyển đổi số trở thành động lực mới để nâng cao giá trị ngành chè. Từ quản lý vùng nguyên liệu, canh tác, chế biến, truy xuất nguồn gốc đến quảng bá, thương mại điện tử và phát triển thị trường, công nghệ số đang mở ra phương thức quản trị mới, hướng ngành chè phát triển hiện đại, minh bạch và bền vững.
Anh-tin-bai

Thái Nguyên hướng ngành chè phát triển hiện đại, minh bạch và bền vững từ số hóa vùng nguyên liệu

Từ số hóa vùng nguyên liệu đến quản trị dựa trên dữ liệu

Một trong những dấu ấn rõ nét trong quá trình số hóa ngành chè Thái Nguyên là xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc. Đến nay, toàn tỉnh đã có 149 mã số vùng trồng chè được gắn định vị trên hệ thống toàn cầu GPS, phục vụ theo dõi, quản lý và truy xuất nguồn gốc theo quy định. Các vùng trồng được cấp mã số có tổng diện tích hơn 900 ha, sản lượng chè búp tươi ước đạt 11.300 tấn; trong đó có 84 mã vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa và 25 mã vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Việc cấp mã số vùng trồng không đơn thuần là xác định địa điểm sản xuất, mà còn tạo nền tảng để quản lý quy trình canh tác, kiểm soát chất lượng và minh bạch hóa thông tin sản phẩm. Đây là yêu cầu ngày càng quan trọng khi thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu, đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, nguồn gốc nguyên liệu và quy trình sản xuất.

Theo định hướng tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh sẽ chuyển mạnh từ phương thức sản xuất truyền thống, phân tán, quản lý thủ công sang quản trị theo chuỗi giá trị, dựa trên dữ liệu số, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu số và thị trường số.

Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu cơ bản hình thành hệ sinh thái số ngành chè đồng bộ, toàn diện; xây dựng ngành chè theo hướng hiện đại, thông minh, minh bạch, xanh, bền vững, theo chuỗi giá trị và tích hợp đa giá trị. Trong đó, 100% doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) có vùng nguyên liệu chè được định hướng ứng dụng công nghệ số ở mức phù hợp trong canh tác, quản lý chuỗi và truy xuất nông sản từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến tiêu thụ. Tối thiểu 80% HTX, doanh nghiệp chè có sản phẩm OCOP sẽ áp dụng phần mềm quản trị sản xuất - kinh doanh phù hợp.

Mục tiêu ấy đang được cụ thể hóa từ chính những cơ sở sản xuất chè. Ở đó, công nghệ không còn là câu chuyện mang tính định hướng, mà bắt đầu hiện diện trong những công việc cụ thể hằng ngày.

Hợp tác xã Trà Quê em được thành lập năm 2024 với 18 hộ liên kết. Vùng nguyên liệu của HTX có gần 6 ha, trong đó 5 ha đang được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ. Các sản phẩm chủ lực gồm trà tôm nõn, trà đinh và trà móc câu; trong đó trà tôm nõn đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao. Hiện HTX đã đưa thông tin truy xuất nguồn gốc lên cổng quốc gia. Chị Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc HTX Trà Quê em chia sẻ: “Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến giúp HTX kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm. Cùng với đó, chuyển đổi số được đưa vào hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đây là cách để khách hàng có thêm thông tin về sản phẩm, vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất, từ đó tăng niềm tin đối với sản phẩm trà của HTX”.

Từ thực tế sản xuất, các HTX cũng xác định số hóa không chỉ dừng ở việc đưa sản phẩm lên môi trường trực tuyến, mà phải gắn với quá trình chuẩn hóa vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm. Khi thông tin được số hóa và kết nối, công tác quản lý sản xuất thuận lợi hơn, đồng thời tạo tiền đề để các HTX mở rộng thị trường.

Anh-tin-bai

Vùng nguyên liệu của HTX Trà Quê em được quản lý, số hóa dữ liệu và gắn với truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao tính minh bạch của sản phẩm chè Thái Nguyên

Hình thành hệ sinh thái số, gắn sản xuất với thị trường

Nếu dữ liệu và truy xuất nguồn gốc là nền tảng thì thương mại điện tử và các nền tảng số được xem là “cánh cửa” đưa sản phẩm chè đến gần hơn với người tiêu dùng.

Kế hoạch chuyển đổi số ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030 định hướng xây dựng cổng thương mại số, không gian số ngành chè Thái Nguyên; đồng thời triển khai chương trình “Gian hàng chính thống chè Thái Nguyên” trên các sàn thương mại điện tử, nền tảng mạng xã hội, website và những nền tảng số phù hợp.

Mục tiêu đến năm 2030 là 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được giới thiệu, quảng bá trên các nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số phù hợp; 100% sản phẩm chè OCOP có hồ sơ sản phẩm số chuẩn hóa, gian hàng hoặc điểm bán số chính thống, kết nối truy xuất nguồn gốc và nội dung truyền thông đồng bộ.

Tại HTX Chè Thủy Thuật, số hóa được đặt trong tổng thể quá trình truy xuất vùng nguyên liệu, hiện đại hóa sản xuất và quảng bá sản phẩm trên không gian số. Ông Nguyễn Viết Thuật, Giám đốc HTX Chè Thủy Thuật cho biết: “Muốn mở rộng thị trường thì trước hết phải bảo đảm nguồn nguyên liệu và chất lượng sản phẩm. HTX đã đầu tư máy móc, trang thiết bị và nhà xưởng theo mô hình khép kín, tự động hóa khoảng 80% các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng lực sản xuất. Đây cũng là nền tảng quan trọng để các sản phẩm có mặt trên các nền tảng số nói chung và sàn thương mại điện tử nói riêng. Việc tăng cường quảng bá trực tuyến với mã truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng giúp khách hàng tin tưởng vào sản phẩm, giảm sự phụ thuộc vào phương thức tiêu thụ truyền thống”.

Anh-tin-bai

Khu vực chế biến chè của Hợp tác xã Chè Thủy Thuật

Từ câu chuyện của HTX Trà Quê em và HTX chè Thủy Thuật có thể thấy, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất rõ ràng. Đây cũng là lý do Thái Nguyên định hướng đưa công nghệ vào từng khâu, từ vùng nguyên liệu, sản xuất đến tiêu thụ, thay vì chỉ tập trung đưa sản phẩm lên các nền tảng trực tuyến.

Theo ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, chuyển đổi số sẽ tạo ra thay đổi không chỉ ở từng khâu riêng lẻ mà trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành chè. Điểm quan trọng là phải hình thành được sự liên kết giữa vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến, truy xuất, thương hiệu và thị trường. Khi sản phẩm có dữ liệu đầy đủ, được chuẩn hóa và có khả năng truy xuất, việc quảng bá trên môi trường số sẽ hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp, HTX nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Với quy mô ngành chè hiện nay, tỉnh sẽ ưu tiên những mô hình có khả năng nhân rộng, đồng thời từng bước chuẩn hóa dữ liệu và quy trình sản xuất. Mục tiêu đến năm 2030 là cơ bản hình thành hệ sinh thái số ngành chè đồng bộ, gắn sản xuất với thị trường, thương hiệu và các giá trị gia tăng như văn hóa trà, du lịch và kinh tế xanh.

Anh-tin-bai

Sản phẩm trà Thái Nguyên ngày càng được chú trọng chuẩn hóa bao bì, truy xuất nguồn gốc và quảng bá trên các nền tảng số

Từ dữ liệu vùng chè đến “hộ chiếu số” của sản phẩm; từ nhật ký canh tác đến chế biến thông minh; từ truy xuất nguồn gốc đến thương mại điện tử, chuyển đổi số đang từng bước tạo nên phương thức mới trong quản lý và phát triển ngành chè Thái Nguyên.

Khi dữ liệu được kết nối, công nghệ được ứng dụng và thị trường được mở rộng trên không gian số, giá trị của cây chè không chỉ được đo bằng sản lượng mà còn nằm ở chất lượng, thương hiệu, tính minh bạch và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường. Đây cũng là nền tảng để chè Thái Nguyên phát triển theo hướng xanh, hiện đại và bền vững.

Ngọc Linh
thainguyen.gov.vn
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 88, đường Hùng Vương, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Đào Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dịch vụ sự nghiệp tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này