Thái Nguyên đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển ngành chè, tập trung vào các khâu từ nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, sản xuất an toàn, bảo vệ thương hiệu đến chuyển đổi số, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Qua đó, từng bước nâng giá trị cây chè, tạo nền tảng để ngành chè phát triển bền vững.
Dự án “Nghiên cứu xây dựng mô hình sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong phòng trừ bệnh hại đối với sản xuất chè, rau, quả an toàn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” triển khai tại xã Đồng Hỷ
Trong năm 2025 và 2026, tỉnh tiếp tục triển khai trên 10 đề tài, dự án khoa học và công nghệ liên quan đến cây chè. Các nhiệm vụ tập trung vào những vấn đề thiết thực của sản xuất: Như ứng dụng chế phẩm sinh học, phân bón vi lượng, công nghệ nano, khai thác nguồn gen vi sinh vật để phòng trừ sâu bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng chè theo hướng an toàn, hữu cơ.
Cùng với đó, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây chè cổ thụ Núi Bóng tại Đại Từ đã góp phần lưu giữ nguồn vật liệu di truyền quý, phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các sản phẩm chè đặc trưng trong tương lai.
Một hướng nghiên cứu có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao giá trị thương hiệu là Dự án áp dụng đồng bộ công cụ sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng kết hợp chuyển đổi số để phát huy giá trị chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” cho sản phẩm chè gắn với Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương”. Dự án đã được nghiệm thu, đánh giá cao, các mô hình sau nghiệm thu tiếp tục được các hộ dân triển khai.
Đáng chú ý, khoa học công nghệ đang được đưa sâu hơn vào quá trình quản lý và tổ chức sản xuất. Thời gian qua, tỉnh phối hợp triển khai mô hình ứng dụng giải pháp công nghệ số cho sản phẩm chè, số hóa và hướng dẫn sử dụng ứng dụng VNPT Green cho các nông hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp. Quy trình trồng, chăm sóc, nhật ký canh tác được cập nhật trên nền tảng số tại 45 tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè đã được cấp mã số vùng trồng.
Việc số hóa quá trình sản xuất tạo cơ sở hình thành dữ liệu vùng nguyên liệu, tăng tính minh bạch, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đây cũng là bước quan trọng để nâng cao năng lực quản lý chất lượng, xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên trong điều kiện thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn và tính minh bạch của sản phẩm.
Theo Đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển quần thể chè Shan Tuyết cổ thụ (Camellia sinensis var. Shan) gắn với du lịch sinh thái tại xã Bằng Phúc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” (nay là xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên), các cây chè cổ thụ đều được gắn mã QR với các thông tin cơ bản về mã hiệu, năm tuổi, chiều cao, chu vi gốc, vị trí để thuận tiện cho quá trình chăm sóc và bảo tồn
Không chỉ tập trung vào sản xuất nguyên liệu, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ còn hướng tới chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và khai thác những giá trị mới từ cây chè như việc triển khai nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất nguyên liệu giàu EGCG từ phụ phẩm chế biến chè xanh để thử nghiệm một số sản phẩm chăm sóc sức khỏe, mở ra hướng tận dụng phụ phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu và gia tăng giá trị sản phẩm.
Định hướng này tiếp tục được mở rộng trong năm 2026 khi tỉnh triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm từ chè trung du; nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm chăm sóc sức khỏe và một số dạng thực phẩm chức năng từ chè xanh Thái Nguyên.
Các nhiệm vụ góp phần đưa khoa học và công nghệ vào quá trình canh tác, chế biến, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hướng tới nâng cao giá trị ở toàn bộ chuỗi sản phẩm. Qua đó, Thái Nguyên có thêm cơ sở để phát huy lợi thế của ngành chè, nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, kinh tế xanh và kinh tế tri thức của tỉnh.