Liên kết sản xuất trong nông nghiệp để cùng phát triển, giảm nghèo bền vững
Từ những vườn măng lục trúc, nương chè hữu cơ hay các mô hình chăn nuôi, nhiều hộ dân ở Thái Nguyên đang từng bước thay đổi cách sản xuất, từ nhỏ lẻ sang liên kết. Khi hợp tác xã, tổ hợp tác cùng tham gia từ khâu giống, kỹ thuật đến thu mua, chế biến và tiêu thụ, người dân không chỉ có thêm thu nhập mà còn giảm bớt rủi ro, tạo nền tảng để duy trì sinh kế và giảm nghèo bền vững.
Từ thay đổi cây trồng đến thay đổi cách làm
Thực tế tại nhiều vùng nông thôn cho thấy, khi người dân cùng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc các hình thức liên kết sản xuất, những hạn chế của sản xuất nhỏ lẻ từng bước được khắc phục. Người dân có điều kiện tiếp cận kỹ thuật, giống, vật tư đầu vào; đồng thời giảm áp lực tìm kiếm thị trường đầu ra. Với hộ nghèo, hộ cận nghèo và những hộ mới thoát nghèo, sự liên kết càng có ý nghĩa bởi đây là nhóm dễ chịu tác động trước những biến động về giá cả, dịch bệnh, thời tiết và thị trường. Khi sản phẩm có đầu ra ổn định, người dân không chỉ tăng thêm thu nhập mà còn có điều kiện duy trì sinh kế sau khi các chương trình hỗ trợ kết thúc.
Những bụi măng lục trúc ở xóm Động Đạt, xã Phú Lương được đưa vào sản xuất trong vài năm gần đây. Trước kia, trên những diện tích này, người dân chủ yếu trồng ngô, trồng keo; có loại cây cho giá trị kinh tế chưa cao, có loại phải mất nhiều năm mới đến kỳ khai thác. Khi nhận thấy cây măng đem lại hiệu quả kinh tế cao, một số hộ bắt đầu chuyển đổi cây trồng. Tuy nhiên, điều đáng nói không chỉ là sự thay đổi cơ cấu cây trồng mà còn ở cách người dân tổ chức sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm.
Mô hình liên kết trồng, chế biến và tiêu thụ măng lục trúc tại xóm Động Đạt hiện có quy mô 10 ha với 17 hộ tham gia; giá trị sản phẩm đạt trên 400 triệu đồng/ha/năm. Đứng ra tổ chức mô hình là Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp dịch vụ và thương mại Phú Lương, thành lập năm 2026. Ngay từ khi triển khai, HTX xác định muốn người dân yên tâm chuyển đổi thì phải đồng hành, cùng chia sẻ từ những khâu khó nhất trong quá trình sản xuất.
Ông Bùi Văn Dương, Giám đốc HTX Nông nghiệp dịch vụ và thương mại Phú Lương, cho biết: “Hợp tác xã ký hợp đồng với các hộ để thu mua măng, đồng thời hỗ trợ cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật. Các hộ tham gia mô hình phải chăm sóc theo đúng quy trình, bảo đảm chất lượng sản phẩm. Khi đáp ứng các yêu cầu đó, hợp tác xã sẽ thu mua theo thỏa thuận hợp đồng đã ký kết.”
Cách làm này tạo ra mối liên kết tương đối rõ giữa người sản xuất và đơn vị tổ chức tiêu thụ. Người dân tập trung vào sản xuất, thay vì phải tự tìm đầu ra sau mỗi vụ thu hoạch; trong khi hợp tác xã có vùng nguyên liệu tập trung để phục vụ chế biến và xây dựng thị trường.
Mô hình liên kết trồng, chế biến và tiêu thụ măng lục trúc tại xóm Động Đạt, xã Phú Lương tạo thêm hướng sinh kế cho người dân
Tại xã Phú Xuyên, câu chuyện liên kết lại bắt đầu từ cây chè - một sản phẩm gắn bó lâu đời với người dân địa phương. Từ năm 2020, 22 hộ đã cùng tham gia sản xuất 5 ha chè hữu cơ. Đến năm 2021, Hợp tác xã Trà Tuất Thoi được thành lập, từng bước đảm nhận vai trò hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra vùng nguyên liệu, thu mua sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ đòi hỏi các hộ phải tuân thủ những yêu cầu thống nhất, không thể mỗi gia đình áp dụng một cách làm khác nhau, bởi chất lượng của sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào cả vùng nguyên liệu. Đây cũng là nền tảng để sản phẩm chè tham gia chương trình OCOP và tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao hơn.
Bà Đào Thị Thoi, Giám đốc Hợp tác xã Trà Tuất Thoi, chia sẻ: “Hợp tác xã cùng bà con đầu tư, hướng dẫn quy trình sản xuất chè hữu cơ và thường xuyên kiểm tra các vùng chè để bảo đảm tiêu chuẩn. Sản phẩm bà con làm ra được hợp tác xã thu mua, qua đó giúp các hộ yên tâm sản xuất, không phải tự tìm thị trường.” Hiện nay, ngoài diện tích sản xuất của các thành viên chính thức, Hợp tác xã Trà Tuất Thoi còn liên kết với một số hộ sản xuất chè hữu cơ để mở rộng vùng nguyên liệu. Một số sản phẩm đã được đánh giá, phân hạng OCOP.
Khi đầu vào và đầu ra được nối thành một chuỗi, hộ sản xuất nhỏ không còn đơn độc trước thị trường. Mỗi gia đình trở thành một mắt xích trong vùng sản xuất hàng hóa, cùng chia sẻ yêu cầu về chất lượng và cùng hưởng lợi từ giá trị của sản phẩm.
Các hộ liên kết sản xuất chè hữu cơ của Hợp tác xã Trà Tuất Thoi cùng kiểm soát quy trình chế biến, góp phần duy trì chất lượng sản phẩm
Tạo sinh kế bền vững cho hộ nghèo
Ở xã Hợp Thành, một hướng hỗ trợ sinh kế đang được triển khai thông qua mô hình chăn nuôi trâu sinh sản. Những năm qua, nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo trên địa bàn xã được hỗ trợ trâu sinh sản. Đến cuối năm 2025, có 100 hộ tham gia mô hình với 148 con trâu, tổng nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ trên 3,9 tỷ đồng. Với những lao động lớn tuổi, hạn chế khả năng đi làm xa, chăn nuôi trâu sinh sản là mô hình tương đối phù hợp với sức khỏe, điều kiện đất đai và nguồn thức ăn sẵn có của gia đình. Tuy nhiên, giá trị của mô hình không chỉ nằm ở một con trâu được trao đến tay người dân mà ở khả năng tạo ra tài sản và nguồn sinh kế có thể duy trì lâu dài. Từ một con trâu sinh sản, nếu được chăm sóc tốt, đàn vật nuôi có thể tiếp tục phát triển, tạo thêm nguồn thu cho gia đình. Qua đó, nguồn lực hỗ trợ ban đầu có thể phát huy giá trị trong nhiều năm, góp phần giúp người dân từng bước ổn định sinh kế.
Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp từ hỗ trợ sinh kế, vốn vay ưu đãi, nhà ở đến tập huấn kỹ thuật và phát triển sản xuất, kết quả giảm nghèo tại Hợp Thành có sự chuyển biến tích cực. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của xã chỉ còn 2,8%. Tuy nhiên, với những hộ vừa thoát nghèo, bài toán quan trọng tiếp theo là làm thế nào để nguồn thu đủ ổn định, sinh kế có khả năng tiếp tục sau khi chính sách hỗ trợ trực tiếp kết thúc.
Ông Phạm Văn Thức, ở xóm Tân Chính, xã Hợp Thành, cho biết: “Khi được hỗ trợ con giống, gia đình có thêm điều kiện để phát triển chăn nuôi. Quan trọng là phải biết chăm sóc, chủ động nguồn thức ăn và giữ được đàn vật nuôi để phát triển lâu dài. Có sinh kế ổn định thì gia đình mới yên tâm làm ăn.”
Từ thực tế đó, mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã và các chuỗi liên kết ngày càng được quan tâm phát triển. Đây không chỉ là phương thức tổ chức sản xuất mà còn được xem là một trong những giải pháp để nâng cao khả năng tự chủ kinh tế của hộ gia đình.
Đồng chí Nguyễn Văn Tuấn, Phó Trưởng phòng Xây dựng, Nông nghiệp - Môi trường xã Phú Lương nhấn mạnh: “Muốn giảm nghèo bền vững, không thể chỉ dựa vào hỗ trợ trực tiếp. Hỗ trợ con giống, hỗ trợ tiền có thể giúp người dân một lần, nhưng nếu đưa được bà con vào chuỗi liên kết, có quy trình sản xuất và đầu ra ổn định thì người dân mới có điều kiện tự đứng vững. Điều quan trọng không phải có bao nhiêu mô hình, mà là có bao nhiêu gia đình sống được bằng mô hình đó.”
Hỗ trợ sinh kế gắn với phát triển sản xuất giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo có thêm điều kiện tạo nguồn thu ổn định
Từ những mô hình cụ thể ở cơ sở có thể nhìn thấy một phần bức tranh rộng hơn về kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh. Thái Nguyên hiện có 1.329 hợp tác xã với trên 47 nghìn thành viên và người lao động; 5.263 tổ hợp tác với trên 77.000 thành viên và người lao động. Những con số này cho thấy kinh tế tập thể đang trở thành một phương thức kết nối ngày càng nhiều hộ sản xuất với thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả của liên kết không chỉ được đo bằng số lượng hợp tác xã hay số mô hình được thành lập. Điều quan trọng hơn là khả năng tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, tạo việc làm, mở rộng thị trường và nâng giá trị sản phẩm.
Ông Nguyễn Mỹ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã phải gắn với nhu cầu thực tế của người dân và thị trường. Hợp tác xã cần làm tốt vai trò tổ chức sản xuất, hỗ trợ thành viên về kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khi các hộ cùng tham gia một chuỗi giá trị, quy mô sản xuất được nâng lên, khả năng tiếp cận thị trường cũng tốt hơn. Giảm nghèo bền vững vì thế không chỉ là đưa một khoản hỗ trợ đến với một hộ gia đình. Xa hơn, đó là quá trình tạo dựng sinh kế có khả năng tự vận hành, giúp người dân có kỹ năng sản xuất, có tài sản, có thị trường và có cơ hội tăng thu nhập".
Khi mỗi hộ dân không còn phải đơn độc tìm "đầu vào, đầu ra"; khi sản phẩm được làm ra theo cùng một tiêu chuẩn và có đơn vị đứng ra kết nối thị trường, sản xuất nhỏ lẻ từng bước chuyển thành sản xuất hàng hóa. Đó cũng là cơ sở để người dân chủ động hơn với sinh kế của mình và tạo nền tảng cho mục tiêu giảm nghèo bền vững trên địa bàn Thái Nguyên.