Khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ cộng đồng vùng đệm: Hướng đi bền vững từ “giữ rừng để sống”
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, tài nguyên rừng chịu nhiều sức ép từ phát triển kinh tế - xã hội, việc bảo vệ và phát triển rừng không chỉ là nhiệm vụ của ngành chức năng mà đã trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội. Tại Thái Nguyên, một trong những địa phương có tỷ lệ che phủ rừng cao của cả nước, việc triển khai chính sách khoán bảo vệ rừng gắn với hỗ trợ cộng đồng vùng đệm đang mở ra hướng đi bền vững, vừa giữ rừng, vừa tạo sinh kế cho người dân.
Xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên có tỉ lệ che phủ rừng đạt trên 75%
Phát huy hiệu quả từ chính sách khoán bảo vệ rừng
Hiện nay, toàn tỉnh có trên 557.000 ha rừng, với tỷ lệ che phủ đạt 62,35%. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế lâm nghiệp, đồng thời là “lá chắn xanh” bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực không nhỏ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhất là tại các khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã tích cực triển khai chính sách giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng, hộ gia đình. Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện khoán bảo vệ hơn 115.230 ha rừng; đồng thời hỗ trợ 145 cộng đồng dân cư vùng đệm các khu rừng đặc dụng theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP với tổng kinh phí trên 7,2 tỷ đồng. Việc giao khoán không chỉ giúp nâng cao trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ rừng mà còn tạo thêm nguồn thu nhập ổn định, góp phần giảm áp lực khai thác rừng trái phép.
Đoàn kiểm tra liên ngành phường Đức Xuân kiểm tra rừng phòng hộ địa phương
Tại phường Đức Xuân hiện có trên 2.106 ha rừng, trong đó có 311,24 ha rừng phòng hộ. Thời gian qua, địa phương đã thực hiện giao khoán bảo vệ khoảng 250 ha rừng phòng hộ cho các hộ dân và cộng đồng. Bà Tạ Thị Lan Anh, Phó Chủ tịch UBND phường Đức Xuân cho biết: “Chính sách giao khoán bảo vệ rừng đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Người dân nhận khoán có ý thức hơn trong việc tuần tra, bảo vệ rừng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Đồng thời, nguồn kinh phí hỗ trợ tuy không lớn nhưng góp phần cải thiện đời sống, giúp người dân yên tâm gắn bó với rừng.”
Hỗ trợ cộng đồng vùng đệm: Tạo “lá chắn” từ cơ sở
Không chỉ dừng lại ở giao khoán, việc hỗ trợ cộng đồng dân cư vùng đệm các khu rừng đặc dụng theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP được xem là giải pháp quan trọng, mang tính lâu dài. Bởi lẽ, cộng đồng vùng đệm chính là lực lượng gần rừng, hiểu rừng và có vai trò trực tiếp trong việc bảo vệ rừng.
Với tổng kinh phí trên 7,2 tỷ đồng, 145 cộng đồng dân cư vùng đệm trong tỉnh đã được hỗ trợ để phát triển sinh kế, nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực bảo vệ rừng. Đáng chú ý, cùng với nguồn lực tài chính, người dân còn được tạo điều kiện tham gia các dự án hỗ trợ sản xuất, các lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp và cây dược liệu dưới tán rừng.
Trong quá trình triển khai, lực lượng kiểm lâm đóng vai trò quan trọng trong việc đồng hành, hướng dẫn người dân xây dựng và phát triển các mô hình sinh kế phù hợp. Từ việc lựa chọn giống cây, quy trình trồng, chăm sóc đến bảo vệ rừng gắn với phát triển kinh tế, đều có sự hỗ trợ trực tiếp của kiểm lâm địa bàn. Nhờ đó, các mô hình không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh tế mà còn tuân thủ các quy định về bảo vệ rừng, góp phần duy trì hệ sinh thái bền vững.
Tại xã Đồng Phúc, một trong những điểm sáng trong phát triển sinh kế dưới tán rừng là mô hình của Hợp tác xã Đồng Phúc. Hiện nay, hợp tác xã có 17 hộ tham gia, triển khai trồng hơn 3 ha khôi nhung tía, 3 ha trà hoa vàng và trám đen theo hình thức xen canh dưới tán rừng. Sau 5 năm triển khai, mô hình đã bắt đầu cho hiệu quả kinh tế rõ rệt. Cây khôi nhung tía đã được thu hoạch trong 4 năm qua, với giá bán từ 15.000 - 20.000 đồng/kg lá tươi và 180.000 - 200.000 đồng/kg lá khô. Đối với trà hoa vàng, từ năm thứ 4 đã có thể thu hoạch lá, với giá bán khoảng 300.000 đồng/kg lá khô…, mang lại nguồn thu ổn định cho người dân.
Chia sẻ về hiệu quả của mô hình trồng cây dưới tán rừng, anh Hoàng Văn Tâm, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Phúc cho biết: “Trước đây, rừng chủ yếu để bảo vệ, ít mang lại thu nhập trực tiếp. Từ được chính quyền và ngành Kiểm lâm tạo điều kiện triển khai mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng, chúng tôi vừa có thêm nguồn thu, vừa có ý thức giữ rừng tốt hơn vì rừng chính là tài sản của mình. Trong quá trình triển khai mô hình, các thành viên hợp tác xã được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật do địa phương và lực lượng kiểm lâm phối hợp tổ chức, nhờ đó nắm chắc quy trình chăm sóc cây dược liệu, hạn chế rủi ro trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm”.
Cán bộ kiểm lâm xã Đồng Phúc và thành viên Hợp tác xã Đồng Phúc kiểm tra hiệu quả mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng
Không chỉ dừng lại ở quy mô hợp tác xã, trên địa bàn xã Đồng Phúc có nhiều hộ dân cũng được tạo điều kiện tham gia triển khai các mô hình trồng cây dưới tán rừng phòng hộ, rừng đệm. Trong đó hiệu quả nhất là mô hình trồng cây dược liệu khôi nhung tía tô với 7 ha, 20 hộ dân tham gia, bước đầu đã cho thu hoạch, mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế hộ gia đình. Ông Triệu Đức Thông, Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Phúc khẳng định: “Việc phát triển cây dược liệu dưới tán rừng không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo vệ rừng một cách bền vững. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục phối hợp với các ngành chuyên môn và lực lượng kiểm lâm để tổ chức thêm các lớp tập huấn, nhân rộng mô hình hiệu quả, giúp người dân yên tâm gắn bó lâu dài với rừng.”
Thực tiễn tại Thái Nguyên cho thấy, khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ cộng đồng vùng đệm không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài nhằm phát triển lâm nghiệp bền vững. Việc gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với quyền lợi kinh tế của người dân, đồng thời tăng cường tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và sự đồng hành của lực lượng kiểm lâm đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét từ nhận thức đến hành động. Giữ rừng không còn là nhiệm vụ đơn thuần, mà đã trở thành “câu chuyện sinh kế”. Khi người dân thực sự được trao cơ hội, được trang bị kiến thức và hưởng lợi từ rừng, họ sẽ trở thành những “người gác rừng” bền bỉ và hiệu quả nhất.