Những người “gieo hạt” đầu tiên cho nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên
Có những thành tựu được ghi nhớ bằng những con số, nhưng cũng có những thành tựu được làm nên bởi những con người âm thầm gieo những hạt giống đầu tiên. Nhìn lại gần ba thập kỷ phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Thái Nguyên, phía sau những đồi chè xanh hôm nay là câu chuyện về những người đã dành tâm huyết, trí tuệ và niềm tin để mở một con đường mới cho người nông dân - con đường sản xuất gần với tự nhiên hơn, an toàn hơn và bền vững hơn.
Từ những "hạt giống" đầu tiên
Nhắc đến Thái Nguyên là nhắc đến cây chè. Nhưng phía sau những vùng chè nổi tiếng ấy còn có một dòng chảy ít được kể lại đầy đủ: Dòng chảy của những con người đã góp phần đặt những "viên gạch" đầu tiên cho nông nghiệp hữu cơ của Thái Nguyên, đồng thời tạo nên những kinh nghiệm quý báu cho quá trình hình thành nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Những năm cuối thế kỷ XX, khái niệm “nông nghiệp hữu cơ” còn rất mới ở nước ta. Thị trường chưa hình thành, tiêu chuẩn trong nước chưa có, người sản xuất thiếu kinh nghiệm, sản xuất hữu cơ chưa phải là một lựa chọn dễ dàng. Trong bối cảnh ấy, tại một số vùng chè Thái Nguyên đã xuất hiện những người tiên phong dám thử nghiệm một phương thức sản xuất khác - giảm sự phụ thuộc vào hóa chất, coi trọng đất đai và hệ sinh thái, hướng tới sản phẩm an toàn và giá trị bền vững.
Những người mở đường từ những cuộc khảo sát đầu tiên
Trong câu chuyện ấy, ông Lường Văn Vượng, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Nguyên, là một trong những người có vai trò mở đầu. Ông cùng tổ chức CIDSE tham gia khảo sát thực địa, tìm hiểu điều kiện sản xuất và cùng xây dựng những mô hình chè hữu cơ tại Tức Tranh và Thiên Hoàng.
Đó không phải là công việc dễ dàng. Muốn đưa một phương thức sản xuất mới đến với người dân, trước hết phải hiểu đất đai, cây chè, tập quán canh tác và tâm lý của người nông dân. Những cuộc khảo sát ấy đã đặt nền móng cho các mô hình thử nghiệm đầu tiên, tạo ra sự tiếp xúc ban đầu giữa tư duy nông nghiệp hữu cơ và thực tiễn sản xuất ở Thái Nguyên.
Nếu các tổ chức và chuyên gia quốc tế mang đến những ý tưởng, phương pháp và kinh nghiệm mới, thì những cán bộ địa phương như ông Lường Văn Vượng chính là những người đưa ý tưởng ấy đến gần với ruộng chè, HTX và người nông dân.
Những chuyên gia New Zealand và cây cầu tri thức hữu cơ
Một dấu mốc đặc biệt trong quá trình hình thành các mô hình chè hữu cơ gắn với PGS.TS. Nguyễn Thị Mão, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Giai đoạn 1996 - 1999, bà được đào tạo tiến sĩ chuyên ngành nông nghiệp hữu cơ tại New Zealand bằng học bổng của Quỹ Kinh tế Thương mại New Zealand. Bà trở thành một trong những nhà khoa học Việt Nam được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực còn rất mới mẻ này.
Năm 2000, bà cùng các chuyên gia New Zealand gồm các giáo sư Neal Erichsion, Gavin Kenly và Chis May tham gia khảo sát thực địa tại Việt Nam để phát triển dự án chè hữu cơ do New Zealand tài trợ. Đây là một sự kết nối có ý nghĩa: Tri thức và kinh nghiệm quốc tế được đưa vào một trong những vùng chè quan trọng của Việt Nam, rồi được chuyển hóa qua điều kiện sản xuất và văn hóa canh tác của địa phương.
Các chuyên gia New Zealand và những người đồng hành trong dự án không chỉ đem đến kiến thức kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là cách tiếp cận coi sản xuất hữu cơ như một hệ thống, trong đó đất, cây trồng, môi trường, người sản xuất và thị trường phải được nhìn nhận trong cùng một chuỗi giá trị.
Sau quá trình khảo sát, các mô hình được triển khai tại Tân Cương, Nông trường chè Sông Cầu, HTX chè Thiên Hoàng ở Minh Lập (nay là xã Đồng Hỷ) và HTX chè Tân Hương ở Phúc Xuân (nay là xã Đại Phúc). Những mô hình ấy trở thành những điểm thử nghiệm quan trọng của chè hữu cơ Thái Nguyên.
PGS. TS. Nguyễn Thị Mão (hàng đầu bên trái) và các Chuyên gia Newzealand khi bảo sát và xây dựng mô hình NNHC tại Thái Nguyên năm 2000. (Ảnh do PGS. TS. Nguyễn Thị Mão cung cấp)
Người kết nối dự án, chính quyền và người sản xuất
Để một mô hình sản xuất mới có thể tồn tại, bên cạnh tri thức và kỹ thuật còn cần sự vào cuộc của cơ quan quản lý, sự phối hợp giữa các bên và định hướng phát triển lâu dài.
Trong giai đoạn 2001 - 2006, bà Nguyễn Thị Ngà, nguyên là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, là người phụ trách các dự án về chè của tỉnh. Đây là giai đoạn các chương trình, dự án quốc tế bắt đầu được kết nối với địa phương và người sản xuất.
Bà Ngà góp phần kết nối hoạt động của dự án với quản lý ngành, sản xuất và định hướng phát triển chè của tỉnh Thái Nguyên. Sau này, bà tiếp tục giữ vai trò Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam khóa I (2012 - 2017).
Nhìn lại chặng đường ấy, có thể thấy sự hình thành nông nghiệp hữu cơ không chỉ cần người làm kỹ thuật mà còn cần những người tổ chức, kết nối, thuyết phục và kiên trì theo đuổi một hướng đi dài hạn.
Bà Nguyễn Thị Ngà, nguyên Chủ tịch Hội chè Thái Nguyên tại cuộc thi hái và chế biến chè ở Tân Cương năm 2026.
Đưa chè hữu cơ đến với thị trường quốc tế
Nếu mô hình sản xuất là nơi ý tưởng được kiểm nghiệm thì thị trường là nơi quyết định ý tưởng ấy có thể "sống" được hay không. Trong câu chuyện này, ông Thân Dỹ Ngữ, người sáng lập kiêm Giám đốc Công ty TNHH Hiệp Thành và thương hiệu chè hữu cơ Ecolink, là một trong những người giải bài toán ấy.
Ông Thân Dỹ Ngữ thành lập Công ty Hiệp Thành năm 2001 và phát triển thương hiệu Ecolink năm 2003, định hướng kết nối người nông dân với sản xuất chè sạch, chè hữu cơ và các tiêu chuẩn quốc tế. Trong quá trình hỗ trợ các mô hình chè hữu cơ tại Tân Cương, Phúc Xuân và Đồng Hỷ, ông đã góp phần kết nối sản phẩm chè búp khô của người dân với hệ thống Thương mại công bằng quốc tế (Fairtrade - FLO), mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường khó tính và nâng cao giá trị sản phẩm.
Đây là một đóng góp có ý nghĩa đặc biệt đối với giai đoạn đầu của nông nghiệp hữu cơ. Bởi sản xuất hữu cơ nếu không có đầu ra, không có tổ chức thị trường và không tạo được giá trị gia tăng cho người nông dân thì rất khó duy trì. Từ Thái Nguyên, những kinh nghiệm kết nối sản xuất - doanh nghiệp - thị trường sau đó được mở rộng tới các vùng chè đặc sản miền núi cao như Bản Liền, Quang Bình và Tam Đường.
Người đặt nền móng khoa học cho đào tạo nông nghiệp hữu cơ
Song song với thực tiễn sản xuất là quá trình nghiên cứu, hệ thống hóa kiến thức và đào tạo nguồn nhân lực. Trong lĩnh vực khoa học và đào tạo, không thể không nhắc đến GS.TS. Nguyễn Thế Đặng, chuyên gia hàng đầu về thổ nhưỡng học của Trường Đại học nông Lâm Thái Nguyên. Năm 2012, ông là chủ biên cuốn giáo trình “Nông nghiệp hữu cơ” - ấn phẩm đào tạo bậc đại học đầu tiên của Việt Nam.
Nếu những mô hình ngoài đồng ruộng là nơi nông nghiệp hữu cơ được thực hành, thì giáo trình và các công trình khoa học là nơi tri thức được hệ thống hóa, truyền bá và đưa vào đào tạo. Việc đặt nền móng học thuật cho nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một tỉnh, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ, nhà khoa học và người làm nghề cho những giai đoạn tiếp theo.
TS. Nguyễn Thế Đặng chủ biên cuốn Giáo trình Nông nghiệp hữu cơ
Những người nông dân biến ý tưởng thành hiện thực
Sẽ là thiếu sót nếu câu chuyện chỉ nhắc đến các nhà khoa học, cán bộ quản lý và chuyên gia quốc tế. Cuối cùng, người làm nên nông nghiệp hữu cơ vẫn là người nông dân.
Ở Tức Tranh, câu chuyện gắn với ông Vũ Cao Bằng, nguyên Chủ nhiệm HTX Tức Tranh. Trong những năm 1997 - 1998, ông cùng người dân HTX tổ chức sản xuất khoảng 15 ha với sự tham gia của khoảng 50 hộ. Họ học cách tự ủ phân hữu cơ, sử dụng chế phẩm vi sinh, cây che phủ và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh có nguồn gốc thảo mộc.
GS.TS. Đào Thanh Vân và Ths.Nguyễn Thị Ngà, trao đổi các thông tin với ông Vũ Cao Bằng, nguyên chủ nhiệm HTX Tức Tranh
Tại HTX chè hữu cơ Thiên Hoàng, ông Nguyễn Văn Lệ, nguyên Chủ nhiệm HTX chè hữu cơ Thiên Hoàng cũng là một trong những người trực tiếp tổ chức sản xuất theo hướng mới. Xuất phát từ một câu lạc bộ quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được CIDSE hỗ trợ, HTX được thành lập năm 2001 với 11 thành viên.
Trong quá trình canh tác, người dân sử dụng phân hữu cơ tự ủ, phân vi sinh, các chế phẩm thảo mộc từ xoan, mần tưới, gừng, giềng, ớt, tỏi, thuốc lào, thuốc lá và bẫy dính màu vàng để quản lý sâu hại.
Những việc ấy ngày nay đã trở nên quen thuộc với người sản xuất nông nghiệp, nhưng gần ba mươi năm trước là một sự thay đổi lớn trong tư duy sản xuất. Người nông dân khi ấy không chỉ thay đổi cách làm chè; họ đang thử thay đổi quan niệm về mối quan hệ giữa cây trồng, đất, môi trường và sức khỏe con người.
Những thử thách và bài học để lại
Con đường ban đầu không hề bằng phẳng. Khi chuyển đổi sang hữu cơ, năng suất chè có thời điểm giảm mạnh; thị trường chưa ổn định; chi phí chứng nhận cao; vùng hữu cơ còn xen kẽ với vùng sản xuất thông thường. Vì vậy, phần lớn các mô hình và tổ chức sản xuất hữu cơ thời kỳ đầu chưa đạt được sự ổn định lâu dài.
Các mô hình thất bại đã để lại một bài học đặc biệt quý giá: làm hữu cơ cần kỹ thuật, nhưng chỉ kỹ thuật thôi thì chưa đủ. Cần tổ chức sản xuất, cần doanh nghiệp đồng hành, cần thị trường, cần hệ thống chứng nhận phù hợp và trên hết là một chính sách đủ dài hơi.
Những người tiếp nối và một dòng chảy không đứt đoạn
Gần ba thập kỷ sau những mô hình đầu tiên, GS.TS. Đào Thanh Vân, giảng viên cao cấp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tiếp tục tham gia vào dòng chảy ấy từ đào tạo, nghiên cứu, tư vấn và kết nối sản xuất.
Ông là Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam khóa III (2023 - 2028), người xây dựng và giữ vai trò Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam giai đoạn 2023 - 2026. Năm 2026, ông tiếp tục đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TS. Đào Thanh Vân - Chủ tịch Hội Nông nghiệp hữu cơ tỉnh Thái Nguyên tại Đại hội lần thứ nhất
Nếu thế hệ trước đặt những viên gạch đầu tiên, thì thế hệ hôm nay đứng trước nhiệm vụ biến những giá trị ban đầu thành một hệ sinh thái rộng lớn hơn: Khoa học - đào tạo - sản xuất - doanh nghiệp - thị trường - chính sách - cộng đồng.
Lời tri ân cho những người "gieo hạt"
Nhìn lại gần ba mươi năm qua, mỗi người đứng ở một vị trí khác nhau. Có người đi khảo sát và mở đường. Có người đưa tri thức quốc tế về Việt Nam. Có những chuyên gia New Zealand dành thời gian khảo sát, hướng dẫn và đồng hành. Có người kết nối dự án với chính quyền và người sản xuất. Có người đặt nền móng khoa học và đào tạo. Có người kết nối sản phẩm với thị trường quốc tế. Có người tập hợp lực lượng và tiếp nối phong trào. Và có những người nông dân trực tiếp đứng trên đồi chè, biến những ý tưởng mới thành những luống chè, búp chè và sản phẩm chè hữu cơ thực sự.
Họ không phải lúc nào cũng cùng làm việc trong một tổ chức, không phải ai cũng xuất hiện trong những báo cáo hay hội nghị lớn. Nhưng họ cùng gặp nhau ở một niềm tin: Nông nghiệp phải hướng tới sự hài hòa giữa con người, cây trồng, đất đai và môi trường.
Ngày nay, khi nông nghiệp hữu cơ đã trở thành một xu hướng quan trọng của thế giới, những điều mà họ từng làm từ cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 càng cho thấy giá trị. Từ những mô hình ở Tức Tranh, Thiên Hoàng, Tân Cương, Tân Hương, Sông Cầu…, những kinh nghiệm ban đầu đã góp phần tạo nên nhận thức mới về sản xuất an toàn, đất khỏe, hệ sinh thái và giá trị của nông sản.
Lịch sử nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên vì thế không chỉ là lịch sử của những mô hình. Đó là lịch sử của những con người tiên phong làm nông nghiệp hữu cơ, họ là những người gieo hạt. Có những hạt giống phải mất hàng chục năm mới nhìn thấy đầy đủ hình hài của cây; nhưng chính những hạt giống ấy đã góp phần tạo nên một dòng chảy mới của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Và hôm nay, khi Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên được thành lập, hành trình ấy bước sang một chương mới. Điều quý giá nhất mà những người đi trước để lại không chỉ là những mô hình, những vùng chè hay những bài học kỹ thuật. Đó còn là niềm tin rằng: Nếu có tri thức, có người nông dân, có sự đồng hành của doanh nghiệp và chuyên gia, có chính sách và một tầm nhìn đủ dài, những hạt giống nhỏ bé ngày nào hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho một nền nông nghiệp xanh, an toàn, nhân văn và bền vững của ngày mai.
Xin được trân trọng ghi nhận và tri ân những người đã gieo những hạt giống đầu tiên cho nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên - những người mở đường, những nhà khoa học, cán bộ quản lý, chuyên gia quốc tế, doanh nghiệp và đặc biệt là những người nông dân. Có thể tên tuổi của họ chưa được nhắc đến đầy đủ trong lịch sử, nhưng những gì họ đã làm sẽ còn tiếp tục được nhắc lại trong mỗi vùng chè xanh, mỗi sản phẩm an toàn và mỗi bước tiến của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
GS. TS. Đào Thanh Vân, Chủ tịch Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên