Theo số liệu ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2026 của tỉnh Thái Nguyên giảm 4,58% so với tháng trước, nhưng tăng 21,45% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong 5 năm qua.
Công nhân Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG làm việc tại dây chuyền may, góp phần duy trì hoạt động sản xuất của ngành dệt may trên địa bàn tỉnh.
Trong tháng 10/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước, chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm (giảm 4,87%). Trong khi đó, một số ngành vẫn có mức tăng, gồm: Sản xuất và phân phối điện tăng 23,70%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,94%; khai khoáng tăng 1,79%. So với tháng 10/2025, sản xuất công nghiệp có mức tăng khá ở cả 3 nhóm ngành chủ lực, cụ thể: Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 33%; khai khoáng tăng 22,33%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,42%. Riêng ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,19%.
Một số ngành có mức tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 124,39%; khai thác than cứng và than non tăng 57,71%; sản xuất xe có động cơ tăng 52,03%; sản xuất trang phục tăng 32,80%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,96%; sản xuất kim loại tăng 19,85%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,84%.
Ở chiều ngược lại, nhiều ngành vẫn chưa phục hồi, trong đó sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 24,96%; khai thác quặng kim loại giảm 21,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 18,07%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic giảm 15,82%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 14,27%; chế biến thực phẩm giảm 10,29%.
Hoạt động sản xuất thép tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên, một trong những doanh nghiệp sản xuất kim loại của tỉnh.
Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 22,96%, cao hơn mức tăng của cùng kỳ các năm từ 2022 đến 2025. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,31%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,65%; khai khoáng tăng 2,91%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,65%.
Xét theo từng ngành, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,28%; sản xuất trang phục tăng 22,25%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,33%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,67%; thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 13,91%; sản xuất kim loại tăng 12,27%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,63%.
Tuy nhiên, một số ngành có mức giảm đáng kể so với cùng kỳ như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 34,99%; sản xuất đồ uống giảm 17,01%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 13,18%; khai thác quặng kim loại giảm 1,73%.
Kết quả trên cho thấy, sản xuất công nghiệp của tỉnh trong 10 tháng năm 2026 đạt mức tăng cao, song kết quả giữa các ngành còn chênh lệch. Tăng trưởng chủ yếu tập trung ở công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là các lĩnh vực điện tử, may mặc, sản xuất ô tô và kim loại. Trong khi đó, nhiều ngành sản xuất khác vẫn giảm so với cùng kỳ. Đáng chú ý, một số ngành có mức tăng cao chủ yếu thuộc nhóm doanh nghiệp FDI, vì vậy những biến động về đơn hàng và hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chung của toàn ngành.
Trong 2 tháng cuối năm 2026, tỉnh tập trung duy trì ổn định sản xuất ở các ngành chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp bảo đảm đơn hàng và mở rộng thị trường; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những ngành đang suy giảm, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác quặng kim loại, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng công nghiệp năm 2026.