Nông dân vùng cao chủ động chuyển đổi cây trồng có giá trị kinh tế
Tại khu vực vùng cao phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, việc lựa chọn cây trồng đang có sự chuyển biến theo hướng chú trọng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường. Từ hộ dân chủ động thay đổi giống cây, hợp tác xã (HTX) đầu tư cơ sở vật chất, tổ chức sản xuất đến doanh nghiệp thử nghiệm cây trồng mới, tư duy sản xuất đang từng bước chuyển từ dựa vào kinh nghiệm sang khai thác lợi thế và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Mô hình trồng lê VH6 của gia đình ông Hoàng Văn Slin, thôn Đèo Gió, xã Ngân Sơn
Ở xã Ngân Sơn, cây lê được người dân trồng từ nhiều năm. Việc đưa giống lê VH6 vào sản xuất đang mở ra hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Gia đình ông Hoàng Văn Slin, thôn Đèo Gió, là một trong những hộ trồng lê VH6 đầu tiên tại địa phương. Hơn 6 năm trước, ông trồng hơn 300 cây lê. Sau khoảng 3 năm, cây bắt đầu cho quả và đến nay, vườn lê đã cho thu hoạch ổn định. Với giá bán từ 30 - 40 nghìn đồng/kg, bình quân mỗi cây lê cho doanh thu khoảng 1,5 triệu đồng, vườn lê đem lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi vụ. Ông Hoàng Văn Slin cho biết: Gia đình lựa chọn giống VH6 vì nhận thấy cây phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, quả to, đẹp và năng suất khá. Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương và qua các đầu mối thu mua.
Ngân Sơn hiện có hơn 20 ha lê. Giống VH6 được đánh giá có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, cho năng suất và chất lượng quả cao hơn giống lê địa phương; năng suất có thể cao hơn khoảng 25%. Với mật độ khoảng 400 cây/ha, cây trưởng thành có thể cho 50 - 60kg quả.
Đồng chí Dương Thị Phương Quế, Chủ tịch UBND xã Ngân Sơn cho biết: Cây lê là một trong những cây trồng có lợi thế của địa phương. Xã định hướng duy trì những diện tích hiện có và tiếp tục mở rộng diện tích tại những khu vực phù hợp; khuyến khích người dân lựa chọn giống có năng suất, chất lượng cao, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, thu hái và tăng cường kết nối tiêu thụ sản phẩm.
Mô hình trồng dưa trong nhà lưới tại HTX Đại Hà, thôn Quang Thuận, xã Bạch Thông
Không chỉ ở quy mô hộ gia đình, tư duy lựa chọn cây trồng dựa trên hiệu quả kinh tế và thị trường cũng được các HTX chú trọng. Tại xã Bạch Thông, HTX Đại Hà từng bước chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ sang đầu tư nhà lưới, lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu người tiêu dùng. Thành lập tháng 8/2015 với 7 thành viên, vốn điều lệ 500 triệu đồng, những năm đầu HTX chủ yếu sản xuất rau, cây ăn quả và các sản phẩm nông nghiệp sạch với quy mô chưa lớn. Cuối năm 2020, HTX đầu tư mở rộng diện tích nhà lưới từ 1.000 m² lên 4.000 m² để trồng dưa lê Hàn Quốc.
Anh Bùi Văn Tô, Giám đốc HTX Đại Hà cho biết: Dưa lê phù hợp với điều kiện sản xuất, nhất là khi trồng trong nhà lưới, giúp kiểm soát sâu bệnh và chăm sóc thuận lợi hơn. Năm 2026, sản lượng dưa lê của HTX đạt khoảng 25 tấn, doanh thu khoảng 1 tỷ đồng.
Cùng hướng đến sản xuất hàng hóa, HTX Nông nghiệp Dương Quang, xã Phong Quang, đầu tư 1.000 m² nhà lưới trồng dưa lưới Hàn Quốc, mỗi năm sản xuất 2 vụ, sản lượng bình quân gần 4 tấn/vụ. Trong khi đó, HTX Hợp Phát, xã Ngân Sơn, phát triển khoảng 50 ha cây dẻ, sản lượng bình quân 9,5 tạ/ha, giá bán buôn tại vườn khoảng 100 nghìn đồng/kg.
Đáng chú ý, một số HTX đã chủ động đưa sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua mạng xã hội. Nhiều sản phẩm được khách hàng đặt mua trước, có thời điểm sản lượng không đủ đáp ứng nhu cầu. Đây là dấu hiệu cho thấy thị trường ngày càng tác động trực tiếp đến quyết định sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để các HTX chủ động hơn trong tiêu thụ.
Cùng với những mô hình đã hình thành, việc thử nghiệm cây trồng mới cũng được doanh nghiệp và hộ dân quan tâm. Tại thôn Nà Ỏi, xã Phong Quang, Công ty TNHH Hà Diệp trồng thử nghiệm hơn 300 gốc nho mẫu đơn trong nhà lưới. Sau một năm, đến tháng 7/2026, mô hình bước vào vụ thu hoạch đầu tiên; mỗi gốc cho khoảng 2,5 - 3kg quả, giá bán bình quân khoảng 250 nghìn đồng/kg.
Chị Hà Minh Đợi, Giám đốc Công ty TNHH Hà Diệp cho biết: Vụ đầu tiên cho thấy cây nho mẫu đơn bước đầu thích nghi với điều kiện sản xuất tại địa phương. Tuy nhiên, đây là cây đòi hỏi quy trình chăm sóc, kiểm soát sâu bệnh và dinh dưỡng chặt chẽ. Doanh nghiệp tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả trước khi tính toán mở rộng diện tích.
Mô hình trồng nho sữa của gia đình chị Bế Thị Mơ, thôn Tân Xuân, xã Cẩm Giàng
Tại xã Cẩm Giàng, gia đình chị Bế Thị Mơ, thôn Tân Xuân, cũng trồng thử nghiệm nho sữa trên diện tích khoảng 2.000 m², sản lượng khoảng 1 tấn/vụ. Những kết quả bước đầu là cơ sở để người dân đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế của cây trồng mới trước khi mở rộng.
Thực tế từ các mô hình cho thấy, chuyển đổi cây trồng ở vùng cao không đơn thuần là đưa một loại cây có giá bán cao vào sản xuất. Hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phù hợp với đất đai, khí hậu, điều kiện sản xuất, yêu cầu kỹ thuật và quan trọng là khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, các địa phương đang chú trọng rà soát diện tích, điều kiện đất đai, xác định cây trồng phù hợp với từng vùng; đồng thời hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, phát triển HTX, tổ hợp tác, kết nối doanh nghiệp và mở rộng các kênh tiêu thụ. Qua đó, hạn chế tình trạng chuyển đổi tự phát, chạy theo giá cả nhất thời và hướng tới sản xuất ổn định, bền vững.
Tại xã Bạch Thông hiện có khoảng 50 ha ổi và táo, địa phương định hướng duy trì diện tích, nâng cao chất lượng thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng sử dụng phân hữu cơ, từng bước áp dụng quy trình VietGAP. Đối với cây cam, quýt, xã định hướng phát triển vùng sản xuất khoảng 350 - 400 ha theo tiêu chuẩn VietGAP; vùng sản xuất lương thực khoảng 200 - 250 ha cũng được định hướng sản xuất an toàn, từng bước xây dựng thương hiệu gạo sạch.
Đồng chí Hà Ngọc Việt, Chủ tịch UBND xã Bạch Thông cho biết: Địa phương xác định chuyển đổi cây trồng phải dựa trên điều kiện thực tế từng vùng, hiệu quả sản xuất và nhu cầu thị trường, không khuyến khích chuyển đổi tự phát. Trong thời gian tới, xã tiếp tục rà soát vùng đất phù hợp với từng cây trồng, hỗ trợ kỹ thuật, phát triển HTX, tổ hợp tác, tăng cường kết nối doanh nghiệp, xúc tiến thương mại; đồng thời quan tâm xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm OCOP đối với những sản phẩm có tiềm năng.
Tại Ngân Sơn, cùng với cây lê, địa phương đang phát huy lợi thế đối với cây dẻ, đào và lúa nếp Khẩu Nua Lếch. Toàn xã hiện có 89,4 ha dẻ, 12,3 ha đào, 28,73 ha lê và 46 ha lúa nếp Khẩu Nua Lếch đã được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao. Việc hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm OCOP được xác định là một trong những giải pháp nâng giá trị nông sản.
Từ những diện tích thử nghiệm đến các vùng cây đã cho thu hoạch ổn định, nông dân vùng cao Thái Nguyên đang có thêm lựa chọn trong sản xuất. Điều đáng chú ý là sự thay đổi không chỉ nằm ở việc chọn giống cây mới, mà còn ở cách tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường: Hộ dân chủ động lựa chọn giống phù hợp; HTX đầu tư cơ sở vật chất, kiểm soát quy trình và tìm kiếm đầu ra; doanh nghiệp, hộ sản xuất thử nghiệm, đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng. Đây là hướng đi cần thiết để nâng giá trị trên cùng diện tích đất, đồng thời tạo nền tảng cho sản xuất nông nghiệp vùng cao phát triển theo hướng hàng hóa, hiệu quả và bền vững hơn.