Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi: Hướng phát triển kinh tế vùng cao
Những năm gần đây, cùng với sự hỗ trợ từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chính sách phát triển nông nghiệp, nhiều địa phương vùng cao phía Bắc Thái Nguyên đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và nhu cầu thị trường. Từ mô hình nuôi ngựa bạch ở xã Na Rì đến trồng chuối tiêu hồng ở xã Cẩm Giàng, những hướng đi mới đang tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng cao.

Thôn Phiêng Cuôn, xã Na Rì từ lâu có lợi thế về những bãi chăn thả tự nhiên rộng lớn trải dài trên các sườn đồi. Từ lợi thế ấy, người dân địa phương đã từng bước phát triển chăn nuôi đại gia súc, trong đó ngựa bạch đang trở thành vật nuôi mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình. Nếu như trước đây người dân Phiêng Cuôn chủ yếu sống dựa vào trồng lúa nương, trồng rừng và chăn nuôi nhỏ lẻ, thì nay nhiều hộ đã mạnh dạn chuyển sang phát triển đàn ngựa bạch theo hướng hàng hóa. Hiện toàn thôn có 30/35 hộ nuôi ngựa bạch với tổng đàn trên 100 con.

Anh-tin-baiMô hình nuôi ngựa bạch của gia đình anh Lý Văn Bạo, dân tộc Nùng, thôn Phiêng Cuôn, xã Na Rì

Theo người dân địa phương, ngựa bạch dễ thích nghi với điều kiện tự nhiên, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có từ cỏ tự nhiên nên chi phí chăn nuôi không lớn. Trong khi đó, nhu cầu thị trường đối với ngựa giống, ngựa thương phẩm và các sản phẩm từ ngựa bạch ngày càng tăng. Ngựa con từ 5 tháng tuổi hiện có giá bán từ 30 - 50 triệu đồng/con; những con ngựa trưởng thành, chất lượng tốt có thể đạt giá từ 80 - 100 triệu đồng/con.

Anh Lý Văn Bạo, một trong những hộ tiên phong phát triển mô hình nuôi ngựa bạch tại Phiêng Cuôn cho biết: “Ban đầu chỉ có vài hộ nuôi để làm sức kéo. Sau khi tìm hiểu thị trường, chúng tôi nhận thấy ngựa bạch có giá trị kinh tế cao, ít dịch bệnh, dễ chăm sóc nên nhiều gia đình bắt đầu mở rộng quy mô. Đến nay, nhiều hộ đã có đàn ngựa trị giá hàng trăm triệu đồng”.

Nhận thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình này, xã Na Rì đã triển khai Dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị ngựa sinh sản với 10 hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tham gia, vay vốn từ nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia. Không chỉ hỗ trợ con giống, các hộ dân còn được tập huấn kỹ thuật chăm sóc, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại và quản lý đàn vật nuôi.

Từ nguồn hỗ trợ của Dự án, gia đình chị Hoàng Thị Sìn, dân tộc Tày ở thôn Phiêng Cuôn đã phát triển đàn ngựa từ 2 con ban đầu lên 7 con như hiện nay. Năm 2025, gia đình chị chính thức thoát diện hộ cận nghèo. Không chỉ có điều kiện sửa chữa nhà ở, gia đình còn có thêm nguồn vốn đầu tư sản xuất và chăm lo cho con cái học hành. Chị Sìn chia sẻ: “Chăn nuôi ngựa phù hợp với điều kiện địa phương, tận dụng được đồng cỏ tự nhiên nên chi phí thấp. Từ đàn ngựa được hỗ trợ ban đầu, mỗi năm gia đình thu được hơn 200 triệu đồng từ bán ngựa, cuộc sống ổn định hơn rất nhiều”.

Theo thống kê của địa phương, sau gần một năm triển khai Dự án, đã có 2 hộ thoát nghèo bền vững, 5 hộ vươn lên có mức thu nhập khá. Thu nhập bình quân của các hộ tham gia mô hình tăng từ 30 - 40% so với trước. Đồng chí Bùi Thị Thu, Phó Chủ tịch UBND xã Na Rì cho biết: “Ngựa bạch là vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục vận động người dân mở rộng quy mô chăn nuôi, đồng thời xây dựng các tổ hợp tác để liên kết sản xuất, tiến tới hình thành sản phẩm đặc trưng gắn với phát triển kinh tế vùng cao”.

Anh-tin-baiGia đình bà Bàn Thị Tắm, dân tộc Dao, thôn Phiêng Kham, xã Cẩm Giàng thu hoạch chuối tiêu hồng

Không chỉ chuyển đổi vật nuôi, nhiều địa phương vùng cao còn chủ động tìm kiếm các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tại xã Cẩm Giàng, mô hình trồng chuối tiêu hồng được triển khai từ năm 2025 đang mang lại những tín hiệu tích cực. Ban đầu mô hình được thực hiện trên diện tích 7,5 ha tại hai thôn Bản Luông và Phiêng Kham với sự tham gia của hàng chục hộ dân. Các hộ được hỗ trợ 100% cây giống, vật tư phân bón và hướng dẫn kỹ thuật từ khâu trồng đến chăm sóc, thu hoạch. Giống chuối tiêu hồng được nhân bằng công nghệ cấy mô sạch bệnh nên sinh trưởng nhanh, đồng đều, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Sau hơn một năm thực hiện, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%, tỷ lệ ra buồng đạt khoảng 92%. Hiện nay, mỗi cây cho buồng nặng trên 20 kg, năng suất bình quân đạt hơn 30 tấn/ha. Đứng giữa vườn chuối vừa thu hoạch xong, bà Bàn Thị Tắm, dân tộc Dao, thôn Phiêng Kham, xã Cẩm Giàng không giấu được niềm vui, chia sẻ: “Trước đây gia đình chủ yếu trồng lúa và dong riềng nhưng thu nhập không đáng kể. Từ khi chuyển sang trồng chuối tiêu hồng, đỡ vất vả hơn mà hiệu quả kinh tế lại cao hơn hẳn. Điều chúng tôi yên tâm nhất là có hợp tác xã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm nên không lo đầu ra”.

Với giá bán ổn định khoảng 4.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư, người dân thu lãi khoảng 30 triệu đồng/ha trong năm đầu tiên. Những năm tiếp theo, khi giảm chi phí đầu tư ban đầu, lợi nhuận dự kiến sẽ còn cao hơn. Để bảo đảm đầu ra cho sản phẩm, các hộ dân trên địa bàn xã Cẩm Giàng đã được liên kết với Hợp tác xã Nông sản sạch Việt Nam.

Ông Vũ Văn Thắng, Giám đốc Hợp tác xã cho biết: “Hiện nay chúng tôi đang ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản lượng chuối của các hộ tham gia mô hình. Trung bình mỗi vụ thu mua từ 20 - 30 tấn sản phẩm để cung ứng cho nhà máy chế biến tại tỉnh Phú Thọ. Thời gian tới, hợp tác xã tiếp tục mở rộng liên kết sản xuất ra các địa phương lân cận nhằm hình thành vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường”.

Đồng chí Nguyễn Văn Hội, Chủ tịch UBND xã Cẩm Giàng cho biết: “Qua đánh giá bước đầu, cây chuối tiêu hồng rất phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương. Từ diện tích 7,5 ha ban đầu, đến nay xã đã phối hợp với hợp tác xã mở rộng vùng trồng lên hơn 20 ha, từng bước xây dựng chuối tiêu hồng trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực của địa phương”.

Anh-tin-baiMô hình trồng chuối tiêu hồng của gia đình bà Phạm Thị Kiên, dân tộc Tày, thôn Bản Luông, xã Cẩm Giàng

Không chỉ riêng Na Rì hay Cẩm Giàng, những năm gần đây, nhiều địa phương vùng cao phía Bắc Thái Nguyên đã tích cực triển khai các mô hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tế. Điểm chung của các mô hình là xuất phát từ lợi thế địa phương, có sự hỗ trợ của chính sách, từng bước gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ, qua đó giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất từ nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Theo thống kê của ngành chuyên môn, giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương khu vực phía Bắc tỉnh đã triển khai 303 dự án phát triển sản xuất, trong đó có 65 dự án liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, với tổng nguồn vốn hỗ trợ trên 136 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia. Các dự án đã hỗ trợ trên 7.200 lượt hộ dân tham gia phát triển sản xuất, hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung đối với cây ăn quả, cây dược liệu, chuối tiêu hồng, đồng thời phát triển các mô hình chăn nuôi ngựa bạch, dê sinh sản, trâu vỗ béo và gia súc đặc sản. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo tại nhiều địa phương giảm từ 2 - 4% mỗi năm, thu nhập của người dân từng bước được cải thiện. Nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, từng bước vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi vẫn còn không ít khó khăn. Quy mô sản xuất ở nhiều nơi còn nhỏ lẻ; liên kết thị trường chưa thật sự ổn định; thiên tai, dịch bệnh và biến động giá cả vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân còn tâm lý e ngại thay đổi phương thức sản xuất truyền thống, trong khi năng lực tiếp cận kỹ thuật, vốn và thị trường còn hạn chế.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, song thực tiễn từ các mô hình sản xuất hiệu quả ở Na Rì, Cẩm Giàng và nhiều địa phương vùng cao phía Bắc tỉnh có thể thấy, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là hướng đi đúng, mang lại hiệu quả thiết thực. Điều quan trọng là quá trình chuyển đổi phải dựa trên lợi thế tự nhiên, thổ nhưỡng, tập quán sản xuất của từng vùng, đồng thời gắn với nhu cầu thị trường và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Không chỉ tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, quá trình chuyển đổi còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, mở ra hướng giảm nghèo bền vững cho khu vực vùng cao. Khi người dân được hỗ trợ đúng cách, mô hình sản xuất phù hợp và đầu ra ổn định hơn, những tiềm năng của vùng cao sẽ tiếp tục được đánh thức, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở.

Thu Cúc
thainguyen.gov.vn
image advertisement
image advertisement image advertisement image advertisement image advertisement image advertisement image advertisement
image advertisement image advertisement image advertisement image advertisement image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

Cơ quan chủ quản: UBND TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Trụ sở: Số 88, đường Hùng Vương, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên Email: portal@thainguyen.gov.vn Điện thoại: 0208.3851149 Fax: 0208.3851149

Trưởng Ban Biên tập: Đào Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Ghi rõ nguồn "thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này